Tuesday, February 22, 2005

kinh hiền iii





VI DIỆU TỶ KHIÊU NI

Một thời Phật trụ nơi đây,
Như mưa xuân đượm cỏ cây đồng đều.
Người người theo đạo cao siêu,
Khác chi cây cỏ kết nhiều trái thơm.
Một lòng như pháp y nương,
Mỗi người là một đạo trường trí bie.
Trong thành Xá Vệ nước kia,
Có ngàn thiếu nữ qui y Phật từ.
Sang giàu cho đến bần ngu,
Sáu điều hòa hợp, cùng tu một chùa.
Ngày ngày trai tịnh công phu,
Cầu yên dân nước đền bù đàn na.
Khiến cho các hàng tại gia,
Tín tâm Tam Bảo, thuận hòa an vui.
Trong hàng ni chúng có người,
Vốn dòng quí tộc tuyệt vời hoa dung.
Xưa quen nệm gấm màn nhung,
Vườn xuân yểu điệu đóa hồng chúa hoa.
Văn chương lễ giáo nếp nhà,
Kết thành ngọc giữ ta bà nghiêm trang.
Thi nhân phương ấy có chàng,
Đã bao ngày tháng vì nàng ngẩn ngơ.
Khi gia nhân chọn đường tu,
Lòng si cay đắng nên thơ bao vần.
Than người hoài phí tuổi xuân,
Đời hoa rực rỡ có ngần mà thôi.
Được mang nhan sắc tuyệt vời,
Sao toan dìm phí trong nơi am thiền.
Mà nào chắc hết trần duyên,
Mốt mai biển ái gọi đền nguồn ân.
Bấy giờ thân mới thương thân,
Nâu sồng một thủa, vẻ xuân đâu còn!
Cô phòng ngày tháng héo hon,
Nhìn người hương lửa sớm hôm ấm nồng…
Thơ bay tới chiếc bao giòng,
Trước còn dạ vững sau lòng phân vân.
Nghe ra lý lẻ đôi phần,
Lá xanh xuân nọ vàng dần hơi thu.
Ni về khép cổng quét thu hồng đào.
Hoa vương ngọn chổi thanh hao,
Thoảng nghe hơi thở hương nào bướm nghiêng.
Lòng đôi cửa tục, cửa thiền,
Ai xui con nhện giăng thêm tơ vò.
Nghĩ gì chim hỡi nhỏ to,
Có buồn lá úa trên đò nước xuôi.
Mây ơi! Trôi nổi bao đời,
Chừng như mây nhớ chân trời về mau.
Cỏ ơi, sao cỏ rầu rầu,
Vườn xanh đã rụng trên đầu mấy xuân.
Núi ơi, sao sao núi tần ngần,
Chân ơi, có nhớ đường vần vũ hoa
Tâm tình, sư trưởng nhận ra,
Thấy ni dưới gốc mai già đăm chiêu.
Biết xuân xanh ấy diễm kiều,
Biết trong tuổi trẻ có nhiều đam mê,
Trách mình giới luật nghiêm trì,
Mà đường giáo lý trí bi lơ là.
Khiến cho ni chúng trong chùa,
Tâm chưa vững trước lọc lừa thế gian.
Hôm sau lên trước quả đường,
Thỉnh xin mở một đạo trường Như Lai.
Đem kinh, luật, luận khai bầy,
Thỉnh bà Vi Diệu làm thầy giảng sư.
Vị này tu học công phu,
Đạo cao, đức trọng sớm trưa tu trì.
Vẻ hoa còn thắm dung nghi,
Hẳn nhan sắc thuở xuân thì ai hơn.
Bây giờ chấp chưởng thuyền môn,
Xứng danh tài đức đôi đường vẹn hai.
Chọn ngày chính pháp khai bầy,
Đạo trường, ni chúng ngồi vây điệp trùng.
Toàn là mơn mởn thu dung,
Tuổi hoa đương thuở ngại ngùng chúa xuân.
Gian nan chưa lấm đường trần,
Cầu oan chưa hẳn một lần bước qua.
Tham mê còn ám lòng hoa,
Thanh cao gương sáng Phật Đà chưa soi.
Nghĩ nên đem hẳn cuộc đời,
Làm đề thuyết pháp, thức người sơ cơ.
Tiếng chuông khai giảng đến giờ,
Ni Sư từ tốn lên tòa khói hương:
“ Dục tâm như lửa nung than,
Huyễn mê là gốc con đàng chúng sanh.
“ Tạo nên ảo giác, giả thân,
Cuốn trong tham hận muôn phần khổ đau.
“ Bần ngu cho đến sang giàu,
Có thân có khổ như nhau khác gì.
“ Sanh, già, bệnh, tử, biệt ly,
Thôi thì thù hận, thôi thì oán than.
“ Giả danh là cõi tù giam,
Khiến thân khẩu ý vô vàn giáo đâm.
“ Thoáng vui lòng chửa vội mừng,
Đã rơi dòng lệ dưng dưng mắt đầy.
“ Ai từng lo héo măt mày.
Ai từng thức suốt đêm dài thở than.
“ Dặm trường ai có gian nan,
Mới từng hiểu rõ trái oan là tình”.
Rồi bà thuật lại chuyện mình,
Khi xưa tên gọi Đoan Trinh diễm kiều.
Gặp người anh tuấn mến yêu,
Nhưng cha mẹ chẳng thuận chiều lòng con.
Ép duyên về một duyên tôn,
Khiến chàng trai nọ tủi buồn ra đi.
Ba năm, sau lễ vu qui,
Phòng hương vừa tiếng hài nhi chào đời.
Thì dồn dập những nạn tai,
Đầu xuân ấy, giữa đêm dài giấc mê.
Chợt nghe vó ngựa giặc về,
Giật mình lửa đã mấy bề bốc cao.
Vội vàng theo lối cửa sau,
Ôm con lẫn trốn rừng sau lạnh lùng.
Sáng ngày trời mới hừng đông,
Lần về còn cảnh tro hồng bụi rơi.
Giặc đêm đã giết chồng rồi!
Gia nhân kẻ chết kẻ thời trốn đâu.
Bên chồng khóc ngất giây lâu,
Rồi lo bới đất vùi sâu trọn tình.
Ôm con liền bước loanh quanh,
Mong tìm về mái gia đình mẹ cha,
Nửa đường quán trọ làng xa,
Gặp đêm bọn cướp vây nhà giết con!
Thấy nàng nhan sắc mê hồn,
Dễ dàng toan bắt theo luôn về rừng.
Trong khi tướng cướp vui mừng.
Thì lòng nàng đã quyết từng phút giây.
Trả thù con, cùng chết đây,
Còn hơn sống nữa, dẫu đầy vàng son.
Lần tay dấu được dao con,
Lừa đâm một nhát máu tuôn thành dòng.
Bị thương, tướng cướp nổi hung,
Thế là chịu trận hãi hùng vũ phu”.
Ngất đi tưởng chết bấy giờ,
Nào hay hồi tỉnh lúc vừa bình minh.
Bàng hoàng giữa cảnh vắng tanh,
Xác con tím ngắt cạnh mình, hỡi ôi!
Nhận ra, lại xỉu từng hồi,
Những toan cắn lưỡi lìa đời cho xong.
Chợt nhìn tàn lá sầu đông,
Cha già, mẹ yếu hẳn trông tin mình.
Còn thân, thôi cũng thôi đành,
Cầm bằng phận mỏng thời xanh nhuốm chàm.
Tình duyên là những vòng tang,
Gắng về cố quận để làm đạo con.
Đường dài, lê gót héo hon,
Đến nhà, trời hỡi! đâu còn nhà xưa!
Gọi tìm cha mẹ, ngẩn ngơ,
Có người chỉ giúp: hai mồ cỏ xanh!
Thân già chết nạn đao binh,
Năm qua, lúc giặc hoành hành nơi đây.
Dân lành lắm kẻ tan thây,
Trông thôn xóm đó; còn đầy tan hoang.
Nghe thôi đau đớn kinh hoàng,
Đoạn tràng, ai đã đoạn tràng thế đâu!
Bước chân đưa rặt lối sầu,
Bàn tay định mệnh đẩy nhau đường cùng.
Còn gì? Trong kiếp long đong,
Cái thân bèo rạt trên dòng gió mưa.
Lần ra bến nước sương mù.
Sông ơi, phận bạc xin nhờ lòng xanh.
Gió nâng tà áo gieo mình,
Sóng dồn tay biếc đón linh hồn sầu.
Là thôi, là hết thương đau,
Hồng nhan hẳn vượt thoát cầu truân chuyên.
Nào hay cõi sống ưu phiền,
Còn đôi má phấn trả đền, chưa tha!
Giữa dòng nước xiết bao la,
Lưới đâu khéo vớt lên bờ thuyền ai.
Trong khoang cấp cứu một hồi,
Nàng dần dần tình, thấy người ngẩn ngơ.
Đây là cõi thực hay mơ?
Cả hai cùng tưởng, cùng ngờ phải chăng.
Tình đau, ghi thuở tuyết băng,
Người lên xe cưới,người thầm lặng đi!
Bao năm, ai ngóng ai chi,
Chợt nay mắt lệ đầm đìa nhận nhau.
Đôi hồi, cạn tỏ nông sâu,
Chuyện nàng tự thuở lên cầu tai ương.
Và lênh đênh những bước chàng,
Từ ra đi với sầu tan nát lòng.
Đã toan trời đất vẫy vùng,
Phá tan những nổi bất công trên đời.
Đem cho thiên hạ nguồn vui,
Cánh tay niên thiếu chuyển rời nước non.
Nhưng rồi gió cát ba bôn,
Mấy năm dựng nghiệp một cơn tan tành!
Ném gươm, bỏ mộng tung hoành,
Một thuyền, một lưới lênh đênh sông dài.
Lấy đời ngư phủ làm vui,
Khi thăm bến lạ khi rời thôn quen.
Với đời: không kể tuổi tên,
Với lòng: Không nổi trắng đen đo lường.
Khi say trăng nước mênh mang,
Tựa thuyền gõ nhịp ca vang đất trời.
Một mình vui nốt cuộc chơi,
Ngờ đâu, nay lại gặp người thuở xưa.
Nghĩ rằng: Trời định duyên ta,
Nên xin nàng nối đường tơ ngày nào.
Đoan Trinh luống ngại ngùng sao,
Một thân chìm nổi ba đào mấy phen.
Với chàng, như dã phụ duyên,
Hay chi mà định tái nguyền lửa hương.
Nhưng chàng khăng khít lời thương:
“Đã ly biệt, lại giữa đường gặp nhau.
“ Trời dành êm ấm về sau,
“ Lẽ đâu cố chấp chịu sầu dỡ dang.
“Để cho đôi kẻ đôi đàng,
“ Xót nhau sinh nỗi đoạn tràng vì nhau”.
Cảm lòng thân thiết trước sau,
Gượng tươi nàng khẽ cuối đầu tạ ơn,
Trăng thề giờ mới tròn gương,
Đời xuân giờ mới sắt son ân tình,
Trên dòng nước biếc mông mênh,
Sóng êm rọi tỏ đôi hình uyên ương.
Bên nhau nào kể thời gian,
Tới khi thấy dấu hiệu nàng có thai.
Biếng ăn gần một tháng trời,
Trong thuyền choáng váng nằm ngồi không yên.
Chàng tìm mái nhỏ thôn quen,
Cho nàng thai dưỡng ấm êm đợi ngày.
Vừa xong chốn ở nơi đây,
Căng buồm chàng lại vượt ngay sóng trùng.
Tính toan thời phải gắng công,
Lưới chài thêm để tiêu dùng mai sau.
Mỗi lần đi cũng không lâu,
Cách ngày chàng đã tìm nhau thăm chừng
Lòng vui chẳng ngại nắng sương,
Sau vài chuyến lại tính đường khác đi.
Biết rằng tại cửa sông kia,
Dân đi biển mới giầu vì ngọc trai.
Chàng bè: “ Ta thử tới nơi,
Nghe buôn một chuyến ăn lời cả năm,
“Đi lâu cũng chỉ hai tuần.
Ở nhà nàng cứ an tâm dưỡng mình”.
Nhìn chồng rời bến bình minh,
Nhớ nhung thêm đậm nghĩa tình phu thê.
Thêm yêu vườn nhỏ bờ tre,
Chùm hoa tỷ muội bên hè dễ thương.
Mười hôm sau buổi tiễn chàng,
Có người lạ mặt tìm nàng báo tin:
Chàng vừa gặp phải cơn đen,
Bán buôn phạm luật, quan trên giữ rồi.
Nhắn nàng phải gấp tới nơi,
Để lo liệu, nếu chậm rồi khó khăn!
Thất kinh, nàng vội theo chân,
Mụ ra tỉnh đó, dám ngần ngại chi.
Nơi đây xe ngựa bốn bề,
Đưa nàng vào một nhà kia lạ lung.
Mụ thầm thì chuyện buồng trong,
Rồi ra bảo: “ Hãy yên lòng ở đây.
“ Tôi đi ra giúp việc ngay,
“ Người quyền quí tại chốn này thiếu chi”.
Dứt lời mụ vội bỏ đi,
Nàng ngơ ngác đứng buồn tê giữa nhà.
Thấy liền mụ khác bước ra,
Rằng: “ con vào nghỉ, rôi ta liệu bàn.
“ Nhà đây thân thiết các quan,
“ Việc con dễ được nể nang cậy nhờ”.
Nói rồi tay dắt nàng vô,
Lên lầu hoa gấm, cạnh hồ nước xinh:
“ Con nên tắm rữa khoẻ mình,
Chiều nay quan lớn trong thành đến chơi.
“Điều cần con phải làm tươi,
Nói năng lựa ý chiều người mới xong”.
Đã hơi nghi ngại trong lòng,
Nhìn quanh lầu vắng nhà không đành chờ.
Chân mây thu hết nắng tà,
Tiếng cười nói chợt khắp nhà rộn vui.
Mụ đưa lên gác một người,
Nhủ thầm: “ Quan huyện đương thời đó con.
Bạc tiền như núi như non,
Việc ngài nhận giúp chẳng còn sợ đâu”.
Mụ ra khép trái cửa lầu,
Huyện quan ghé mặt vuốt đầu lả lơi.
Dằng tay, nàng chạy ra ngoài,
Nhưng mụ nấp đó tức thời chặn ngay:
“ Này, này! bảo thực cho hay,
Bán mi, mụ đó lấy đây bạc nghìn.
“ Biết điều thì phải chịu yên,
Vào hầu quan lớn khỏi phiền ruột ta”.
Mạnh tay mụ đẩy nàng vô,
Huyện quan như hổ đói vồ mồi ngon.
Kéo xô nàng ngã lên giường,
Nước này, đến nước liều còn đợi cho.
Vớ ngay bình sứ pha lê,
Đập đầu hổ đói đầm đìa máu chan,
Hắn vừa cất tiếng thét vang,
Mụ ào tới cửa mấy nàng theo sau.
Thế là giữ cẳng nắm đầu,
Trận mưa đấm đạp nàng đau ngất hồi.
Ngừng tay, tưởng đã chết rồi,
Tối đêm chở xác vứt ngoài rừng xa.
Biết đâu còn tội đời hoa,
Bữa kia tỉnh lại nằm nhà ai đây?
Bên giường bà lão mừng thay,
Một tay bưng thuốc một tay nâng đầu:
“ Con đừng ngồi dậy mà đau,
Để lão giúp đõ cho mau lại người”.
Lão ông cũng về tới nơi,
Thấy nàng tỉnh hẳn mừng vui vô cùng.
Hôm kia đi củi trong rừng,
Gặp người nằm ngất trên vùng cỏ tươi.
Xem còn thoi thóp chút hơi,
Lại coi như bị trụy thai nguy nàn!
Cùng nhau khiêng vội về làng,
Đã qua mấy bữa thuốc thang tận tình.
Chừng nghe thấu chuyện Đoan Trinh.
Ông bà càng xét, dỗ dành bảo khuyên:
“ Thôi, con cố nén lo phiền,
Để mau bình phục mà tìm chốn xưa”.
Sụt sùi nàng chấp tay thưa:
“Đời con có phúc mới là gặp đây,
“Ơn như trời đất cao dầy,
“ Con xin ghi tạc dạ này muôn thu…”.
Cưu mang mấy chục ngày qua,
Thấy mình cứng cáp nàng thưa xin về.
Để người trọn nghĩa phu thê,
Ông bà đưa tiễn, dẫu nghe buồn lòng.
Dò đường tìm lại bến sông
Dân nơi xóm cũ vừa trông thấy nàng.
Xúm quanh lộ vẻ xót thương,
Kể cho nghe chuyện lúc chàng về đây.
Nàng vừa rời bến mươi ngày,
Lo âu chàng vội đi ngay kiếm tìm.
Kẻ nào mưu tính đảo điên,
Lừa này để dẫn tới miền tỉnh xa!
Dẫu trời vẻ sắp phong ba,
Rong thuyền chàng vẫn vượt ra ngàn trùng.
Thế là đêm nổi bão going,
Lật thuyền chìm vỡ giữa dòng trường giang.
Ngày sau xác nổi gần làng,
Vớt lên, dân xã chu toàn ma chay
Lại phen hồn lạc phách bay,
Bước đi thất thểu tới ngay mộ người.
Tàn đêm, cạnh nấm đất tươi,
Bỗng dưng nàng phá lên cười như ma.
Nhìn mây cuộn nổi bao la,
Tưởng đang vẫy gọi nàng ra chân trời.
Chung quanh náo động tiếng người,
Giáo gươm va chạm, vó dời ngựa vang.
Lòng đau dựng cảnh chiến tràng,
Ngẩn ngơ đi khắp tỉnh làng hát ca.
Con điên! Ai cũng lánh xa,
Nàng trông thiên hạ hóa ra thú trùng.
Người thì bụng lửa mồm trông,
Mắt người là một dòng sông cuốn người.
Nghe trong tiếng nói tiếng cười,
Toàn là lửa độc ngạt trời hồ reo.
Lê la nào biết sớm chiều,
Một hôm bỗng thấy sói beo quanh mình.
Lại như thây chết yêu tinh,
Hoặc toàn xiềng xích ngục hình đeo mang.
Chợt đâu một ánh hào quang,
Như bông sen tỏa vô vàn tia xanh.
Bao nhiêu quỉ sứ yêu tinh,
Thoắt thay đổi hóa nên hình người dta,
Trong khi thấp thoáng nẻo xa,
Hoàng y rực rỡ sắc tà dương soi.
Rồi trang nghiêm, hiện một người,
Đưa tay như nụ hoa tươi nhiệm mầu.
Lòng ai sạch oán tan sầu,
Tưởng vừa trong giấc ngủ lâu giật mình.
Áo người rực rỡ quang minh,
Dáng đi trầm mặc ôm bình ngọc ngọc vân.
Đoan Trinh vội bước theo chân,
Người về tịnh xá kỳ hoàn nghiêm trang.
Chung quanh đệ tử hàng hàng,
Thân như hồng ngọc, y vàng tịnh thanh.
Mây bay chim rộn trên cành,
Xa xa suối liễu đôi nhành lơ thơ.
Tự nhiên có một sư cô,
Hiền từ dắt đến bên hồ nước xinh.
Bảo nàng tắm rữa thân mình,
Quy y tam bảo, phúc lành xuất gia.
Thế rồi khép động Thiền Na,
Đến hôm nghe Phật lại qua đạo trường.
Vội ra quì dưới đài hương,
Một vùng giải thoát gió thơm diệu vời.
Nghe như thân hết bụi đời,
Nghe tâm như sạch mây trời mù che.
Trông ra bát ngát bốn bề:
Núi non hổ phách pha lê chói lòa.
Từng hơi thở nhẹ vào ra,
Như dòng suối lặng dưới hoa trầm từ.
Xuôi về nghìn kiếp xa xuư,
Bao nhiêu vọng tướng bây giờ sạch trơn.
Chắp tay: “ Bạch đức Thế Tôn,
“ Nhân duyên ngày trước lưu tồn đến nay.
“ Thân như móc sớm chớp ngày,
“ Thỉnh xin đức Phật khai bày cho con”.
Trên đài giữa nét cười son,
Hào quang phòng tỏa muôn hòn núi cao.
Mở ra dường cõi chiêm bao,
Nàng xưa là vợ phú hào một thôn.
Hiếm hoi không được mụn con,
Nên chồng mới chuốc hầu non một người.
Vào ra quấn quit vui cười,
Khiến ghen như thể lửa trời nấu nung.
Lại khi sinh trẻ đầu lòng,
Vợ chồng khắn khít, ẳm bồng luôn tay.
Quên ai khó nhọc bao ngày,
Cơ đồ sự nghiệp một tay gây dừng.
Giờ nhìn nước lả người dưng,
An nhiên ngồi hưởng, sao đừng tiếc công!
Chẳng là không trả về không,
Uất ghen, tính chuyện kim đồng dấu đi.
Một chiều gặp bé trai kia,
Nhởn nhơ dưới gốc hoa hoè dong chơi.
Kim dài dấu sẵn trên tay,
Trước sau chẳng một ai hay biết nào.
Thấy nàng lẳng lặng đi vào,
Bé kia bước thấp bước cao lại mừng.
Cầm kim luống những ngập ngừng,
Lệ đâu lại đọng dưng dưng mắt đầy.
Bao lần định lại ngừng tay,
Trẻ kia mắt ngó thơ ngây đâu ngờ.
Lòng ghen cùng với vò tơ,
Phân vân trăm nổi chần chờ mấy phương.
Tiếng ai gọi vọng sau tường,
Nghìn cơ còn lại một đường này thôi.
Nhớ xưa chồng vợ kề đôi,
Bây giờ lủi thủi ra người bang quan.
Rồi khi đầu bạc thân tàn,
Họ vui con cháu vênh vang kể nào.
Hẳn dùng mắt, miệng như dao,
Bõ ngày phận nhỏ thăm chào nể nang.
Công xưa khó nhọc ai màng,
Gia tài này cũng chuyển sang còn gì!
Nghĩ càng như hoảng như mê,
Hại người, hơn chịu ngày kia hại mình.
Thế là nắm chặt chiếc đinh,
Giơ cao đóng xuống thân hình trẻ kia.
Đỉnh đầu máu đổ đầm đìa,
Giơ tay bịt miệng nghe gì tiếng la.
Chiếc đinh đóng ngập vào da,
Máu tuôn mà ngó nhạt nhòa thấy đâu.
Mắt trông quáng đủ sắc màu,
Lòng ghen chỉ có oán sầu ngụt sôi.
Mưu cơ đã sắp sẵn rồi,
Vứt thây xuống giếng vội dời vườn hoang.
Áo quẩn tẩy sạch phi tang,
Cáo quan thì mấy nghìn vàng là xuôi.
Buổi chiều tìm trẻ khắp nơi,
Vườn sau ruộng trước, tăm hơi nào còn.
Sau cùng vớt được xác con,
Nàng ôm khóc ngất từng cơn khác nào.
Gia nhân làng xóm xôn xao,
Quan trên là chổ thân nào nghi ai.
Mưu gian che được mắt ngườ,
Nhưng sao lọt khỏi mắt trời chí công.
Trải bao nhiêu kiếp bụi hồng,
Trả vay vay trả trong vòng trầm luân…
Thuật xong câu chuyện quả, nhân,
Sư bà Vi Diệu ân cần thêm câu:
“ May ta gặp được đạo mầu,
Dứt vòng nhân quả oán sầu diệt tan
“ Tội dù Bắc hải Nam san,
Kết nhau như áo tơ vàng mặc đây.
“Đổi thay còn cũng tùy tay,
Hướng tâm quy Phật dứt ngay đó là.
“ Có thì muôn vật sinh ra,
Không thì muôn vật lại đà hoàn không.
“ Có không thì cũng tại lòng,
Đương nhiên lại bước trong vòng chiêm bao.
“ Cõi trời hoa đốm lao xao,
Tiến tu lòng chẳng nệ vào có không.
“ Nguyện Bồ Tát độ trần hồng,
Cho dù sương lạnh như bông tuyết đào.
“ Các người mê đắm chiêm bao,
Muôn muôn kiếp mộng kết vào cảnh thân.
“ Tham mê mãi mãi xoay vần,
Trăm đường cũng tại dấu chân kiếm tìm.
“ Sao như đá núi tịch nhiên,
Như chim tịnh độ giữa miền cỏ hoa…”.
“ Giọng sư ấm áp pháp tòa,
Mở lòng ni chúng chan hòa từ quang.
“ Vườn xuân rực rỡ sắc hương,
Chùm hoa tỷ muội trên giàn nở tươi.

NGƯỜI MẸ TỪ HÒA

Ngày xưa, ông Lê Kỳ Di,
Triều Ba Tư Nặc là bề tôi trung.
Có bẩy trai quí nối dòng,
Sáu anh sớm đã đào hồng đẹp đôi.
Còn em thứ bảy là người,
Uyên thâm lý đạo tột vời tái hoa.
Lão quan nghĩ tuổi đã già,
Muốn cho con cái thành gia đủ đầy.
Nhưng tìm dâu út khó thay
Dẫu trang quốc sắc đất này thiếu chi.
Công dung ngôn hạnh ai bì,
Sắc hương vừa độ dậy thì đào tơ.
Nhưng chàng Bẩy vẫn chối từ,
Lòng trai còn mãi trầm tư diệu vời.
Ông khuyên: “ Cha đã già rồi,
Xuân thu còn ít tuồi trời lui mau,
Trước khi nhắm mắt qua cầu,
Muốn nhìn con trẻ có nhau xum vầy.
Mối mai nhắn đó nhờ đây,
Biết bao vóc nguyệt dáng mây khoe đào.
Lại dòng phúc hậu thanh cao,
Lẽ đâu không một nơi nào đáng chăng.
Chỉ vui kinh sách phòng văn,
Khiến cha trông đợi băn khoăn đã nhiều!”
Chàng thưa: “Đâu dám tự kiêu.
Khi song thân đã thương chiều tìm nơi.
“ Xứng danh kiều diễm trang đài,
Song con nghĩ: Chỉ một thời rồi qua.
“ Những hương sắc với vinh hoa,
Nên lòng đợi chốn hiền hòa đức cao.
“Đồng tâm sẽ kết tơ đào,
Vui lòng cha mẹ duyên trao thuận hòa.
“ Kiếp người chẳng lẽ sinh ra,
Giam trong giả tướng một nhà trầm luân”.
Ông khen: ý đẹp muôn phần,
Nếu được như vậy, đâu cần thêm chi.
“ Bạn cha có một vị kia,
Quen nhiều, biết rộng nhờ gì cũng xong”.
Quả nhiên khi nghe chuyện ông,
Thân tình, lão hữu vui lòng ra đi.
Gót hiền tìm đến thôn kia,
Tình cờ gặp nhóm xuân thì dạo vui.
Một nàng trong nhóm mảnh mai,
Mặt tươi hoa sớm, tuổi ngoài nửa trăng.
Các cô khi tới suối rừng,
Tự nhiên đều tháo hài cầm trên tay.
Riêng nàng đó để nguyên hài,
Ung dung đi xuống, dáng người dễ thương.
Lão ông thấy vẻ khác thường,
Lưu tâm xem cách thức nàng ra sao.
Các cô đều xắn quần cao,
Riêng nàng, vẫn thả ống đào bước qua.
Mấy cô ồn ả nô đùa,
Riêng nàng tươi tỉnh gởi thưa phải lời.
Bạn trèo cây bẻ cành chơi,
Riêng vàng dạo ngắm cỏ tươi lá mềm.
Sau hồi dỡn nghịch huyên thuyên,
Các cô vặt hái cả nghìn trái cây.
Duy nàng chẳng đụng mảy may,
Đến khi cùng bạn dắt tay trở về.
Lão ông giả bộ người quê,
Ho khan mệt nhọc, ngồi kề lối qua.
Mấy cô kia mãi vui đùa,
Riêng nàng ngừng bước, xót xa hỏi người:
“ Cụ từ đâu tới đây chơi?”
Lão rằng: “ Vốn ngụ một nơi xa thành,
“ còn cô, nhà hẳn gần quanh?
“ Cho ta hỏi chút thân tình, có nên?”
Nàng thưa: “ Xin cụ tự nhiên,
Điều con biết sẽ trình lên với người”.
Lão ông rằng: “ Thực mừng vui,
Thấy con dung hạnh khác đời lắm thay.
“Đã chơi cùng chúng bạn đây,
Mà khi xăn áo, cởi giầy lội sang.
“ Lại khi đập trái cây rừng.
Sao con riêng biệt không cùng đùa theo?
Thưa: “ Dù việc chẳng bao nhiêu,
Nhưng lão trượng hỏi, con đều phải thuư.
“Áo quần dù vải hay tơ,
Cũng như giầy dép cốt cho người dùngd.
“ Phải tùy lựa trước là xong,
Đã che thân thể nên không tiếc gì.
“ Còn như cây trái đồi kia,
Dành cho chim chóc đi về có ăn”.
“ Lão khen con có thiện căn,
Nên ta mong được tới thăm lệnh đường”.
Nàng vâng lời, dẫn vào làng,
Đến nhà vườn rộng dưới hàng cây xanh.
Chủ nhân cốt cách lịch thanh,
Hỏi ra mới biết là tình đồng hương.
Vốn dòng quyền quí giàu sang.
Phải khi tai họa tìm đường lánh đây.
Luống khoai, ao cá, vườn cây,
Đất lành chim đậu tháng ngày thong dong.
Thêm gian nhà mát hướn đông,
Mở trường học nhỏ, dân vùng mừng vui.
Gởi con em tới theo đòi,
Gió thơm đồng nội truyền lời giảng văn.
Sớm thấy ngắm núi hoa sương,
Chiều ôn thế sự ngẫm thương nỗi đời.
Khi cùng dân giã, lưới chài,
Miếng trầu điếu thuốc một vài câu thăm.
Khi xem dệt cửi, ươm tằm,
Khuyên con cháu giữ tình chăm nết hiền.
Được lòng yêu kính suốt miền,
Việc làng, việc nước, cậy phiền lo toan.
Làm dân cho đến làm quan,
Góp tay bồi đắp giang san cũng là.
Ngã nhân bởi tự lòng ta,
Xá gì ảo ảnh sương sa cõi người.
Miễn sao thiên hạ cùng vui.
Thuận hòa một góc thuận hòa nhân duyên.
Lão ông mừng gặp người hiề,
Đức cao, tâm rộng, địa tiên chốn này.
Hàn huyên trà rượu đôi ngày,
Mới đem chuyện bạn ngõ bày xem sao.
Diệu Hoa hiền đức má đào,
Xứng cùng chàng bẩy trí cao lòng từ.
Thuận duyên, người gởi, người thưa,
Sang mùa hoàng cúc, một nhà phượng loan.
Đôi bên rễ quí dâu hiền,
Gia đình hạnh phúc dưới trên thuận hòa.
Khiêm nhường đối đãi gần xa,
Trong tình chồng vợ ngoài ra bạn hiền.
Diệu Hoa quản trị điền viên,
Lại cùng chàng lúc bút nghiên văn bài.
Tiếng ngoan đồn khắp trong ngoài,
Người trên kẻ dưới nức lời mến thương.
Lại hay cứu vớt tai ương,
Biết bao kẻ khó được nàng giúp cho.
Thấy ai có chút lòng từ,
Là nàng khuyến khích coi như thân tình.
Yêu thương khắp loại chúng sinh,
Giữa phồn hoa rắc nhân lành nơi nơi.
Bẩy lần sanh bảy con trai,
Đều là cốt cách trí tài vô song.
Tính cha, nết mẹ theo dòng,
Kết giao hiền sĩ, anh hùng bốn phương.
Thị thành cho đến thâm sơn,
Đều từng in gót bầy chàng dạo qua.
Bởi lòng cầu tiến thiết tha,
Nghe danh ẩn sĩ đâu là tìm ngay.
Khi mong thêm một bạn hay,
Khi cần được một bực thầy bảo ban.
Sự tình khiến một thượng quan,
Vốn tay xiểm nịnh quyền gian bực mình.
Phần ghen lừng lẫy tài danh,
Phàn nuôi giận cũ nên sanh oán thù.
Lòng thầm hằng nghĩ mưu mô,
Đặt lời xàm tấu lên vua ngày ngày.
Phải khi dân gặp thiên tai,
Người đau kẻ chết trong ngoài xốn xao.
Anh em lo giúp đồng bào,
Nịnh quan thừa dịp đặt bao bẫy ngầm.
Rồi tâu là họ mưu toan,
Xúi dân nổi loạn, tính đường cướp ngôi.
Cớ gian trình sẵn đây rồi,
Vua tin truyền giữ bảy người khảo tra.
Mưu thù quyết hại không tha,
Cho tiền quản ngục bắt tra cực hình.
Được vàng lại sẵn máu tanh,
Mấy tên trâu ngựa hết mình làm theo.
Ngày đêm khảo đã đủ điều,
Đòi ăn đút lót thật nhiều ngọc châu.
Nhưng gia đình có tiền đâu,
Của riêng đã giúp đồng bào tai ương.
Thế là nát thịt tan xương,
Anh em chết tại ngục đường lặng im
Nhưng dù che dấu mọi tin,
Cũng không mấy chốc, dân liền xôn xao.
Gái, trai, già, trẻ khóc gào,
Bên thành kéo đến xin vào kêu oan.
Mặc cho giáo chặn binh giàn,
Quyết lòng tố cáo nịnh quan hại người.
Bây giờ mới rõ mười mươi,
Nhà vua sửng sốt lại mời trăm quan.
Nửa đêm tới hợp triều đường,
Sai vệ binh bắt kẻ gian hạ tù.
Rồi cho quân lính truyền loa,
Loan tin dân biết để mà trấn an.
Nhưng dân căm uất vô vàn,
Kêu gào xin điệu kẻ gian ra ngoài.
Để dân sẽ tự phanh thây,
Ăn gan, uống máu họa may nguôi lòng.
Nói rồi toàn thể đám đông,
Chẳng nề gươm giáo quyết xông vào thành.
Chí dân làm cả triều đình,
Dẫu đầy quân tướng cũng kinh hoảng người.
Thế cùng sắp máu xương rơi,
Trên thành chợt thấy một người vội ra.
Chính là hiền mẫu Diệu Hoa,
Thiện danh đã khiến nhà nhà kính yêu.
Xuân thu tuổi dẫu qua nhiều,
Nghi dung còn vẻ diễm kiều chưa phai.
Vẫy tay, từ tốn cất lời:
“Đồng bào xin hãy nghe đôi câu này.
Chính tôi sầu thảm nhất đây,
Sinh con đâu biết có ngày tan con!
Hận thù hẳn chất như non,
Nếu không nhớ lại khi còn bình sinh.
Các con tôi hướng việc lành,
Nguyện đem thân giúp chúng sanh thuận hòa.
Lẽ đâu chết lại thành ra,
Mối cừu hận để nhà nhà máu rơi.
Các người đã thương con tôi,
Thì xin ghi nhớ những lời lẽ xưa.
“ Oán nào giải oán bao giờ,
Máu nào gội được máu thù cho tan”.
Hãy về thể hiện tình thương,
Là cho hồn trẻ suối vàng được vui”.
Dứt câu, sông núi ngậm ngùi,
Từ âm khiển cả lòng người dịu theo.
Lệ tuôn thương nhớ còn nhiều,
Nhưng quay về với những điều từ bi.
Rồi hiền mẫu đến rừng kia,
Chắp tay kính đức đại bi trên tòa,
Phật rằng: “ tín nữ Diệu Hoa,
Dù cho muôn loại một nhà máu xương.
Cúng trong ải nghiệp vô thường,
Ân ân oán oán trăm đường vào ra.
Chấp người nên mới có ta,
Có mình nên mới có nhà trầm luân.
Giờ con muốn rõ quả nhân,
Thì ta cũng kể một lần cho nghe,
Kiếp xưa có bảy người kia,
Không nhà, thất thểu không nghề sinh nhai.
Chúng hay lui tới thôn ngoài,
Nhà bà lão bán hao lài từ xưa.
Kiếm ăn dù đói hay no,
Cũng dành hoa để dâng chùa sớm hôm.
Nghe lành, ngắm Phật làm gương,
Đài sen như thấy tỏa hương thơm đời.
Một hôm bà lão đi rồi,
Bọn kia giắt trộm trâu người đem ăn.
Bà về gặp bọn sát sanh,
Buộc trâu làm thịt thôi đành tính sao.
Biết rằng ác báo kiếp sau,
Nhân nhân quả quả nối nhau chẳng dời.
Nguyện rằng sau có ở đời,
Thì xin độ được bảy người hiền lương.
Trần gian ảo hóa vô thường,
Oán xưa chồng chất tìm đường báo nhau.
Quan triều, chính kiếp xưa trâu,
Bị đem giết thịt hẹn sau oán đền.
Còn bà lão đã phát nguyền,
Là Diệu Hoa đó, con hiền bảy trai.
Ác căn còn cũng nhờ người,
Duyên lành hóa cải đổi dời như không.
Ngộ mê cũng tại nơi lòng,
Quả nay hẳn rõ nhân trồng kiếp xưa.
Dù nơi động thẳm non mờ,
Tránh sao khỏi quả đền giờ báo sinh.
Cõi đời nhục nhục vinh vinh,
Nổi trôi bọt nước bồng bềnh sông mê.
Chỉ còn nguyện đền bờ kia,
Yêu thương vô hạn đi về thênh thang.
Tử sinh như cát sông vàng,
Mười phương cõi giới con đàng vào ra.
Giả hình như bóng chim qua,
Như sông biển réo ta bà bọt sôi.
Xá gì một gợn mây trôi,
Mà chân vướng mãi luân hồi trầm luân.
Sông thanh tịnh xả bụi trần,
Đạp muôn quách mộng một lần cho tan.
Ngẫm xem suốt cõi trần hoàn,
Khác gì ảo ảnh mênh mang giữa trời,
Niệm sinh như lớp mây dời,
Một, hai: Vọng chấp lòng người mà ra.
Hợp sung cũng một lòng ta,
Mười phương pháp giới đều là thể tâm”.
Bấy giờ giữa chốn tuyền lâm,
Vua quan cũng đã kéo lần tới nghe.
Chắp tay im lặng dưới hè,
Hoa bay thấp thoáng, mây che chập chùng.
Pháp hiền như vẳng hồng chung,
Xóa tan sầu hận vô cùng vô biên.
Lòng người như đóa bạch liên,
Giữa nơi mê vọng ưu phiền nở ra.
Vua, quan tỉnh thức trần sa,
Noi gương tín nữ Diệu Hoa đại từ.
Như đêm tỏ hiện chân như,
Như bầy hạc giữa không hu tìm về.
Y nương dưới cội Bồ Đề.
Cây non cỏ nội bốn bề xanh tươi.
Như xuân nhuần thấm đất trời,
Như triêu dương trải nắng tươi ngọn ngành.
Như chim nhạn vượt non thành,
Kiếm hoa dương trải áo xanh dưới cầu.
Thấm câu pháp vị nhiệm mầu,
Như đêm thu vẳng chuông đâu trầm từ.
Như dùi mõ vọng không hư,
Khiến người dứt nổi ưu tư tục trần.
Khiến cây cỏ dục lòng xuân,
Khiến mây nhờ núi lại vần vũ bay.
Diệu Hoa đứng dậy chắp tay,
Cánh bông vương giữa tóc mây đôi bờ.
Giớ trời thoang thoảng hương đưa,
Nét môi đào thẳm thốt thưa nhẹ nhàng.
Rằng con tỉnh giấc mơ vàng,
Đức này hồi hướng khắp hàng nhân thiên.
Nguyện cho mười cõi dưới trên,
Phúc duyên tỉnh giấc sầu miên hận thù.
Qui nương chính đạo tìn tu,
Ngọn đèn trí huệ nghìn thu rõi hiền.
Trên bờ cỏ úp tay tiên,
Như lan bạch ngoc đặt lên gấm trời.
Lễ xong lui đứng bên người,
Nhà vua cũng lại phát lời thệ cao.
Quần thần kẻ trước người sau,
Cũng xin thệ nguyện lễ đầu thiết tha.
Một bầy chim tự phương xa,
Bay về ríu rít trải hoa cúng dường.
Thinh không hiện áng mây hường,
Kết thành quạt báu tỏa hương diệu kỳ.
Cúng dường đại lễ qui y,
Gió thơm thổi sạch mê ly bụi trần.
Người người tuần tự lui chân,
Đức vua cùng với quan quân chẩy về.
Lúa xanh ngăn ngắt đồng quê,
Tiếng ai gọi nghé trên đê vọng dài.

HÓA THÂN CỨU ĐỜI

Đài hoa còn đọng sương mai,
Khu thành La Duyệt nắng phơi phới vàng.
Chim từ non biếc tìm sang,
Như mây vân tập ca vang rừng tùng.
Bên đồi Phật đạo thung dung,
Ngắm sương đọng nhụy tựa lòng ngọc soi.
Ngàn bông nở cánh tuyệt vời,
Gió thơm cũng thoảng hương trời lan xa.
Phật nguyện cho khắp cỏ hoa,
Năm năm, tháng tháng rườm rà trái bông.
A-Nan hoan hỷ cõi lòng,
Ngàn mai rũ sạch trần hồng tuyết băng.
Khác gì người thấm đạo vàng,
Nhuần cơn pháp nhũ như hàng hoa kia.
Tại sao kẻ ngộ người mê,
Kẻ sau người trước lối về quê chung.
Chẳng như cỏ nội hoa rừng,
Cùng soi tỏ dưới tưng bừng nắng mai.
Phật thông cảm nỗi lòng ai,
Mới bầy sau trước đôi lời thong dong:
“ Tánh người nào khác viền trăng,
Mây che mờ tỏ cung hằng vẫn như…
Thuở xưa trong cõi Diêm Phù,
Có vua trí đức, đại từ, đại bi.
Lòng ngài như suối lưu ly,
Như hang mầu nhiệm diệu kỳ lửa soi.
Lời như trầm ngát cõi trời,
Thân như khuôn ngọc tuyệt vời nhân gian.
Thường rời cung điện cao sang,
Vì dân đi khắp thôn vàng gần xa.
Ở đâu có vết chân qua,
Là người an lạc thuận hòa dưới trên.
Khiến cho tiêu oán tan phiền,
Nhân dân khắp nước trọng hiền đãi tăng.
Một hôm có nhóm thiên văn,
Vào tâu vua chuyện muôn phần khẩn trương.
Họ xem điềm hiện khác thường,
Rõ là hạn hán tai ương sắp về,
Nước nhà tất hẳn muôn bề lầm than!
Vua liền cùng với trăm quan,
Tìm phương cách để cứu dân kịp thì.
Đêm ngày bàn lại tính đi,
Chưa tìm được một lối gì tránh qua,
Thì trời nắng cháy thịt da,
Dân quê chết đói như là rạ khô.
Đó đây dần cạn ao hồ,
Rừng sâu cũng vẻ xác xơ lá cành.
Sớm chiều vắng bặt tiếng chim,
Nơi nơi hiện cảnh im lìm xót xa,
Ngày càng ngày một nóng ra,
Lòng vua đau xót biết là kể bao,
Trông lên thăm thẳm trời cao,
Cây không lá động, thấy nào gợn mây.
Đêm đêm cũng nực như ngày,
Bệnh mùa lan rộng dân đầy hoảng kinh.
Buồn lo trùm khắp triều đình,
Bao nhiêu kế hoạch cũng đành như không.
Lệnh truyền ải Bắc thành Đông,
Theo vua tích thiện thêm lòng giới trai.
Ăn năn ác tội sâu dày,
Thành tâm chuyện cộng nghiệp này mới thôi.
Của công ban phát nơi nơi,
Giúp dân trong lúc nạn tai mịt mờ.
Nhưng sông cũng đến cạn khô,
Khắp nơi người chết không mồ lấp chôn!
Vua truyền ngôi lại cho con,
Một mình tìm chốn động non tu trì.
Nguyện sao được hóa thân đi,
Làm mưa rữa sạch sân si tội người.
Làm mây che rợp đất trời,
Khiến cho lúa trổ đồng tươi được mùa.
Quả như đại nguyện nhà vua.
Bẩy ngày sau chuyển gió mưa khắp miền.
Triều đình vui sướng vô biên,
Vào hang động thỉnh vua hiền ngự ra.
Nhưng trên cội đá rêu pha,
Ngài đã nhập diệt, tim lòa hào quang.
Nhục thân kết hiện sắc vàng,
Tinh anh hóa chuyển muôn làn mây bay.
Xôn xao tin khắp đó đây,
Nguyện vua khiến hỏa tinh xoay khỏi vùng.
Ở đâu gió gợn là rung,
Là như còn vọng trầm hùng tiếng xưa.
Ruộng vườn tươi mát dưới mưa,
Tiếng chim đây đó cũng vừa tiếng ru.
Suối còn chảy mãi thiên thu,
Sông còn nhắc chuyện đức vua hòa bình.
Đêm còn trăng tỏa lung linh,
Vẳng nghe khúc hát thanh bình dân gian”.
Bấy giờ hiền giả A-Nan,
Hiểu vua xưa, chính tiền thân của ngài.
Biết bao kiếp trước Như Lai,
Đã phát nguyện lớn độ người trầm luân.
Ví mà diệt hết tham sân,
Niết bàn hóa hiện cõi trần đâu xa.
Lòng người nào khác muôn hoa,
Mỗi hương, mỗi sắc mặn mà kém chi.
Trước sau rồi vẫn đến ký,
Nụ khai, trái kết cũng thì đua tươi.
Tiệm tu thiện nghiệp đời đời,
Trăm năm đâu phải kiếp người là xong.
Quẩn quanh sáu cửa bụi hồng,
Mình đem mình buộc trong vòng quẩn quanh.
Như chim bói cá mầu xanh,
Nhớ hồ xưa lại tìm cành đậu soi,
Sao như cánh trắng hạc trời,
Vút đi chẳng vết đường dời giữa mây.
Bấy giờ một bước xa bay,
Chuyển mê ngộ nhập phút giây tức thì.
Nắng hồng rực giải thoát y,
Ngàn hoa khiến bướm say về lả lơi.
Một dòng hoa nổi giữa trời,
Một dòng hoa nở trong người trầm tư.
Cánh nào mở cõi không hư,
Phiến băng tuyết khảm một tờ kin cang.

VẼ TRANH HÓA ĐẠO

Nắng mai tươi sắc y vàng,
Phật cùng hiền giả A-Nan lên đường.
Bầy chim rời cội lá sông,
Bay theo cất giọng hát mừng chân như.
Tiếng nào lạnh giữa tâm hư,
Lòng hoa hồ cũng trầm tư diệu vời.
Thành ra một giải chân trời,
Cờ pha mây đỏ ùn hơi vọng đài.
Sương vương giải áo Như Lai,
Sáng như ngọc nạm trên vai tỏ ngời.
Cổng thành vừa ghé tới nơi,
Ngựa xe phố thị vọng lời xôn xao.
Bên đường cạnh gốc thông cao,
Có một chú bé hồng hào xinh thay.
Đương chơi đất cát đắp xây,
Lũy thành như thật đủ đầy dinh cơ.
Phố phường cung điện nguy nga,
Trại, kho, sông, chợ, lại nhà chúng dân…
Mừng vui thấy Phật tới gần,
Bé lựa miếng đưa lên dâng ngài.
Thế Tôn nhận lấy mỉm cười,
Tay xoa đầu trẻ, xong Người bước êm.
Dấu chân hóa độ uy nghi.
Gần trưa, trở lại rừng hiền thênh thang.
Bấy giờ Phật bảo A-Nan,
Đem miếng đất trẻ cúng dàng cất đi.
A-Nan thấy sự lạ kỳ,
Nghĩ đây hẳn có duyên gì sâu xa.
Cất rồi trầm mặc dưới hoa,
Việc kia chẳng dám đem ra thưa bầy.
Phật nhìn thấu rõ lòng ngay,
Gọi A-Nan đến dưới cây hạnh đào.
Phật nằm trên võng tơ trao,
Một đôi bướm trắng đậu vào tóc xanh.
A-Nan bên đức cha lành,
Ngồi trên phiền đá, dưới cành hoa vương.
Phật cho hay hạnh cúng dường,
Tâm vô cầu ấy dị thường phúc duyên.
Kiếp sau trẻ nhỏ ngoan hiền,
Là vua A Dục miền miền đội ơn.
Sẽ vì xá lợi Thế Tôn,
Mà xây tám vạn bốn thành tháp cao.
Để chia linh ngọc cất vào,
Cho người các nước mai sau phụng thờ.
Còn bao công đức nhà vua,
Làm nên sáng tỏ bốn mùa khói hương.
Trần gian là Chuyển Luân Vương,
Khiến người ngộ đạo chân thường Như Lai.
Thương dân, hòa hợp đất trời,
Dựng lên triều đại lưu đời vẻ vang.
Đó là phúc báo cúng dàgn,
Nguyện kia như ngọc kim cang diệu vời.
Lại sau thị hiện cõi ngoài,
Phương nam sẽ đến, chuyển khai đạo hiền.
Xuất thân từ chốn am thiền,
Trị bình thiên hạ, uy quyền không hai.
A-Nan lại hỏi thêm lời,
Vì sao ngài được đời đời tôn xưng.
Phật cười, kể chuyện tiền thân,
Của ngài trong một kiếp trần xa xưa.
Ở nơi cường quốc làm vua,
Đương khi có Phật Phất Sa độ đời.
Nhà vua thường được tới lui,
Đạo tràng nhuần thấm những lời Phật ban.
Thấy là lợi lạc vô vàn,
Nên thương các nước lân bang, chư hầu.
Xa xôi, nào tới được đâu,
Mà chiêm ngưỡng Phật mà cầu tiến tu!
Tới đạo tràng, dụng công phu hết mình.
Ngắm Phật mà vẽ vào tranh,
Bao giờ xong, sẽ đem hình dâng vua.
Năm sau được tám vạn tư,
Bức tranh giống đức Phật Đà như in.
Lòng vua mừng rỡ vô biên,
Vội đem trao tặng các miền nơi xa.
Được tranh như thấy Phật Đà,
Muôn muôn người ở nơi xa vui mừng.
Đức vua lại thệ nguyện rằng:
“Hóa khai Phật đạo khó khăn chẳng nề.
Giúp người vượt thoát tham mê,
Nhân gian trồng cội bồ đề xanh tươi.
Yêu thương sáu ngả, muôn loài,
Dẫu bao nhiêu tiếp cứu đời, xả thân…”.
Nguyện vua lớn rộng vô ngần,
Cõi sinh tử đã bao lần vào ra.
Nhờ công đức ấy bao la,
Khơi nguồn chính đạo, truyền loa pháp hiền.
Phúc căn đầy cõi tam thiên,
Ta bà thị hiện hóa duyên Bồ Đề.
Khiến người khai ngộ chuyển mê.
Xa lìa tham hận nương về tánh chung.
Đại bi, đại trí, đại hùng,
Nguyện thề độ lớn vô cùng chúng sinh.
Quả này gieo tự nhân trên,
Giờ thành chính giác bốn bên hộ trì.
Khiến cho ngàn cõi quay về,
Muôn sông cũng lặng sóng mê thì thào.
Nói xong Phật nhặt cánh đào,
Trong lòng tay ngọc hồng hào tỏa hương.
Một đôi sáo đất viễn phương,
Về ăn hạt hạnh bên đường rụng rơi.
Phật cầm y đỏ giáng trời,
Nghe trong gió thoảng còn lời diệu âm.
Dường như tiếng vọng tuyền lâm,
Dường như hương thoảng rừng trầm non mai.

CON RẮN CÚNG NGỌC

Thế Tôn nhìn ngắm mây bay,
Sớm qua núi biếc, chiều này sông lam.
Ngài truyền hiền giả A-Nan,
Bảo cho đại chúng khóa an cư là:
“Như sông gợn bóng mây qua,
Như non bát ngát đường qua vân trình,
“ Trầm tư khai mở trí minh,
Từ bi hóa độ chúng sinh mọi loài.
“Đem mình giới hạnh trí trai,
Phá tan mê chấp trong ngoài có không.
“ Như đuốc tỏa chốn bụi hồng,
Như than bích ngọc thoát vòng trần lao.
“ Tâm tư vạn cửa bạch hào,
Trải y phước địa lối vào nhân thiên…”
Sớm mai từ giã non thiền,
Hàng hàng tăng chúng các miền vân du.
Như hạt quí trải Diêm Phù,
Thôn lan, thành trúc động du hoa vàng.
Ta bà xông giải thoát hương,
Như xuân nắng đượm mười phương đất lành.
Thời gian thấm thoát qua nhanh,
Đã nghe rừng hạ phơi cành lá thu.
Gót chân trầm mặc thiền sư,
Đất in đậm dấu đại từ liên hoa.
An cư kiết hạ vừa qua,
Giờ về Xá Vệ nơi cha tụ lành.
Như ngàn hạt lướt mây xanh,
Đem hoa khắp cõi về thành cúng hương.
Phật ngự tòa tháp chân thường,
Chung quanh tăng chúng y hường như mây,
Vui mừng nụ cũng đơm cây,
Cúng dường chim cũng họp bầy nhã ca.
Lưng trời mây kết tàn hoa,
Chập chùng núi khoác giang hà thiên thanh.
Sương giăng lưới ngọc trên cành,
Cát hồng mã não trở mình khói sương.
Bấy giờ đức Phật Thế Tôn,
Hiện hào quang đẹp dị thường tỏ soi.
Lắng nghe tâm kệ từng người,
Môi tươi nét ngọc mỉm cười ngậm hoa.
A-Nan khoác tấm y đà,
Miên man dưới gốc cội hoa lắng nhìn.
Thấy Phật hoan hỷ trang nghiêm,
Chẳng hay do dự cơ duyên thế nào,
Kiếp này trong ánh bạch hào.
Mênh mang biển trí thanh cao khác thường.
Da người mây nhuộm triêu dương,
Mắt người vẻ ngọc chân thường tỏa soi.
Tai người như cánh bạch mai,
Răng đều như hạt trên đài sen hương.
Thoáng trông Phật đã tỏ tường.
Biết A-Nan nọ vấn vương cõi lòng.
Muốn cho đệ tử tỏ thông,
Dẫn vào biển pháp mênh mông nhiệm huyền.
Nói ra tiền kiếp nhân duyên,
Có ông trưởng giả nổi tên một vùng.
Quá tham giữ ngọc cất vàng,
Giấu chôn sáu hố dưới hàng liễu dương.
Nhưng rồi nào khỏi vô thường,
Ngày kia rồi cũng mồ sương tiêu điều!
Vì tâm tham đắm mạn kiêu,
Đọa làm thân rắn sớm chiều giữ kho.
Sống ôm tiền bạc bo bo.
Chết đi vẫn lại trong lò nghiệp căn.
Quẩn quanh bên hố ngọc vàng,
Gặp khi Bồ Tát thênh thang tới miền.
Nghĩ thương nghiệp rắn đảo điên,
U mê trong cõi triền miên đọa đày.
Nhà sư giải nghiệp sâu dày,
Khiến cho rắn nọ tỉnh ngay mộng trường.
Ngài khuyên trong cõi vô thường,
Tham mê là gốc con đường chúng sinh.
Vì dầy nghiệp tội vô minh,
Tù thân trong cõi giả hình giả danh,
Tiếc gì mấy hủ ngọc vàng,
Mà làm kiếp rắn hổ mang nhọc nhằn.
Nên đem làm phước tu nhân,
Cúng dường, bố thí giải sân si này.
Rắn nghe lệ cũng rơi đầy,
Dẫn về sáu hố khai bày ngọc châu.
Rồi khoanh thân cúi sát đầu,
Bò vào bình bát nhiệm mầu thiền sư.
Ngài mang về đến sân chùa.
Gặp khi tăng chúng đương giờ thụ trai.
Nhà sư đem chuyện giải bày,
Trong bình rắn mới nghe thầy bò ra.
Cúng dường sáu hố ngọc ngà,
Cúi xin trước vị Duy Na chứng dùm.
Giờ đây khắp cả trai đường,
Nghe ra thấy chuyện dị thường lạ thay.
Rồi liền sau bữa thụ trai,
Tụng kinh trì chú người người nhất tâm.
Khiến cho rắn sạch mê lầm,
Qui y tam bảo gieo mầm hóa sinh.
Cõi trời rắn được hiển vinh,
Cũng do phước quả sáu bình ngọc châu.
Nhờ ơn pháp nhũ nhiệm mầu,
Lại cùng tăng chúng nguyện cầu hóa duyên.
Bao đời sạch oán tan phiền,
Tiến tu vượt cõi sầu miên tuyệt vời.
Còn như chuỗi bọt sóng sôi,
Quẩn quanh sáu nẻo luân hồi tham sân.
Chấp mê ảo huyễn hồng trần,
Khiến thân khẩu ý muôn phần đảo điên.
Sáu căn như cửa sông phiền.
Nghiệp lực như nước triền miên trùng trùng.
Mắt người như sóng xuôi sông,
Ý người như ngựa trên đồng chạy hoang.
Thức người như lớp thành vàng,
Mông mênh huyễn giác muôn làn khói mây.
Cơn cơn mộng ảo trùng vây,
Khác chi từng bẹ thân cây chuối này.
Khiến thành nghiệp thức mê say,
Đẩy vào mãi chốn đêm dài vô minh.
Thế nên sáu loại chúng sinh,
Tù giam trong chốn ngục hình chẳng ra.
Quẩn quanh cõi mộng ta bà,
Chuỗi đời vô lượng trần sa khác nào.
Khởi duyên như sóng theo nhau,
Tự đem oan trái buộc vào lụy thân.
Long đong nhật nguyệt xoay vần,
Hợp tan một cõi phù vân rạc rời.
Chân tâm chẳng bến chẳng nơi,
Niết bàn cũng chỉ như hơi khói đùn.
Để người vượt cõi mây un,
Khác chi chớp lóe sương phun nhạt nhòa.
Cũng do phương tiện hóa ra,
Hư không một cõi thành hoa diệu vờ.
Là đẩu tinh dẫn người người.
Long đong trôi rạt trùng khơi mê mờ.
Mãi tìm bến đậu trong mơ,
Chấp tham sáu cửa vật vờ bước chân.
Thôi thì này nọ ngã nhân.
Khiến cho mầm cội mê sân khởi hoài.
Như cơn nước dữ đưa người,
Bánh xe nhân quả luân hồi mãi xoay.
Bây giờ nương dấu thành mây,
Vượt qua huyễn giới theo thầy qui y.
Bóc từng bẹ chuối thân kia,
Vượt muôn bờ vực tế vi tự mình.
Cửa vào cõi giới tâm linh,
Như hoa nở giữa bình minh nắng hồng.
Nhưng chim cánh vút từng không,
Chẳng lưu dấu giữa bềnh bồng mây trôi.
Chân tâm chẳng bến chẳng nơi,
Cũng không biểu tượng chẳng lời chia phân.
Con đường ngộ nhập tánh chân,
Là đường chẳng một dấu chân kiếm tìm.
Mười phương pháp giới vi trần,
Cũng là điên đảo mê sân hiện bày.
Như cơn bịnh lớn trong người,
Từ vô thủy kiếp bao đời trầm luân.
Bây giờ gặp được hiền nhân,
Chỉ phương diệu dược chữa thân an lành.
Một khi vọng nghiệp tan tành,
Từ trong sân ngục mê thành thoát ra.
Bấy giờ khắp cõi ta bà,
Niết bàn cũng tự trần sa trở mình.
Chân tâm tối diệu, tối linh,
Ngữ ngôn cũng bặt, bóng hình cũng tan.
Đó là đường xuất thế gian,
Cũng là lối nhập trần hoàn độ tha.
Như xuân nắng đượm muôn hoa,
Như hư không nọ chói lòa từ quang.
Mười phương pháp giới bụi vàng,
Nằm trong hơi thở một làn hương bay.
Đạo tràng phơ phất hoa lay,
Kết thành hương quí quanh đài pháp vương.
Phật ngồi áo nhuộm tà dương,
Chúng tăng như bụi mây hường nổi quanh.
Núi nghiêng thành quách chàm xanh,
Gió xa cuốn tự mấy cành vàng rơi.
Đàn chim lác đác chơi vơi,
Tụ về ca hát dâng lời dưới hoa.
Lưng non chuông vọng từ hòa,
Mây vàng lãng đãng trên tà y bay.
Sông xa triều đã dâng đầy,
Non xa suối vẳng âm cây độc huyền.
Bốn bề xanh ngắt thiên nhiên,
Vẳng đâu tiếng mõ bên triền ngân sương.

THẮNG LÒNG THAM DỤC

Ngày xưa, trong xóm Trầm Hương,
Từng đôi cò đậu trên đường tre xanh.
Chân no suối lụa viền quanh,
Nhịp cầu trúc nhỏ uốn ngành kiêu sa.
Là nơi trang trại cúc hoa,
Của một dật sĩ khề khà thu đông.
Ngày ngày trồng cải ươm bồng,
Hoặc chôn mấy hủ rượu hồng đợi xuân.
Con ông tên gọi Thanh Vân,
Tuổi vừa đôi tám đương ngần đào tơ.
Nghiêng nghiêng tóc xỏa vai bờ,
Đêm đêm dệt sợi hững hờ gió bay.
Một chiều hong lụa suối tây,
Dòng sông xanh nhận chìm mây vàng vàng.
Lung trời xao xác chim sang,
Tiếng như lá rụng trên giàn thiên thanh.
Nàng nghe thiền trượng khua gần,
Nhà sư vân thủy dừng chân cổng ngoài.
Như hoa tuyết phủ đôi mày,
Dáng đâu hạc nổi từng mây hiện về.
Sư rằng: “ hong lụa tơ kia,
Sao con chiếc áo bồ đề chẳng phơi?”
Nàng thưa: “ từ thuở ra đời,
Chưa từng thấy áo như lời thiền sư”.
Sư cười: “ vẫn ngủ say ư.
Y nương từ thuở bao giờ đã quên.
Hãy mang thuốc đến làng bên,
Cứu người đang bệnh biết liền áo đâu”.
Lời như tia sáng nhiệm mầu,
Chiếu vào trong khoảng trời sâu u huyền.
Nàng theo lời đến làng bên,
Rừng cao thú vọng sương đêm mịt mù.
Nguyện rằng đã mấy năm tu,
Thượng cầu hạ hóa cho dù tan thân.
Đời đời nối mãi dòng chân,
Là dòng hoa nở cõi trần ngậm hương.
Bỗng dưng vân thấy bên đường
Hiện ra cửa động kim cương chói lòa.
Xuyên mây lầu tháp muôn toà,
Quanh quanh đường cuộn bờ hoa ngát trời.
Nhạc ca cung điện lả lơi,
Đèn sao muôn dặm chiếu ngời hào quang,
Nội hoa đồng cỏ mênh mang,
Bên sông nước biếc đôi hàng liễu tơ.
Soi dòng nai nhở ngẩn ngơ,
Thinh không hạc trắng lững lờ vờn bay.
Dưới bờ hoa tím từng cây,
Thuyền ai buông giữa dòng mây gác chèo.
Vẳng đâu tiêu khúc dặt dìu,
Tơ vàng theo gió như chiều mưa giăng.
Rẽ hoa chợt thấy ba nàng,
Từ trong cửa động dịu dàng bước ra.
Cánh hồng nhường thẹn làn da,
Giọng xuân ríu rít như là oanh kêu.
Tóc đôi dòng cuộn mây chiều,
Bước đi chầm chậm dặt dìu hài tơ.
Tới bên nàng cất tiếng thưa:
“ Hôm nay sao lại tình cờ gặp nhau?
Hay là duyên nghiệp từ lâu,
Xin dừng bước để ít câu chuyện trò.
Chúng mình thân tự đời xưa,
Em tiên, chị tục bây giờ nhận ra.
Này đây điệu ngọc lầu hoa,
Này đây suối cuộn mây sa bờ đào.
Chị em ta hãy cùng nhau,
Dắt tay dạo nguyệt bên cầu liễu tơ.
Nhìn trời họa mấy vần thơ,
Khơi trầm thanh tịnh , bầy cờ thiên thai.
Nơi đây cảnh trí bồng lai,
Sông đào còn đợi tay ai dạo thuyền”.
Ngọt ngào thay giọng người tiên,
Nhưng Vân đã nguyện lẽ quên được nào.
Đành thưa: “ Xin tạ lòng nhau,
Duyên may được gặp dám đâu khước từ.
Nhưng vì hứa với thiền sư,
Cứu người bịnh khổ, chần chừ được sao.
Mai sau mong có dịp nào,
Qua đây sẽ lại xin vào tạ nhau”.
Nói rồi nhẹ gót đi mau,
Vì còn hình ảnh đón đau nằm chờ.
Lại xa trong đám bụi mờ,
Có ba quỉ hiện đứng chờ một bên,
Hầm hừ cầm búa giơ lên,
Hỏi: “ sao mi dám qua miền động ta?
Trả lời: “ khắp cõi trần sa,
Thân còn chẳng có nữa là cõi riêng.
Tôi vì trợ đạo hóa duyên.
Cứu người tật bịnh dù đêm ngại gì.
Qua đây để đến làng kia,
Nếu ông cần mạng, lúc về tôi dâng”.
Nghe xong ba quỉ bẽ bang,
Bước đi, lại hiện ba nàng liễu mai:
“ Chúng em vừa thử lòng người,
Quả nhiên nguyện lớn chuyển dời được sao.
Hiện ra động ngọc non đào,
Hiện làm ác quỉ, chị nào đổi thay.
Giờ xin giới thiệu em đây,
Là mê, tham, giận, hiện bầy đó thôi.
Khiến người chịu nẻo luân hồi,
Khiến người bể khổ nổi trôi bọt bèo,
Bây giờ lòng nguyện xin theo,
Hộ trì chính đạo một chiều chẳng sai.
Em xin tặng chị búa này,
Phá tan nghiệp mệnh trần ai khó gì”.
Nói rồi phá đám mây đi,
Trời cao như cõi lưu ly tỏ ngời.
Thôn bên nàng đã tới nơi,
Thuốc đem giải độc cho người đớn đau.
Lần hồi kẻ trước người sau,
Bao nhiêu bệnh não tham sầu sạch băng.
Lối về vượt mấy cầu trăng,
Non xa mây phủ sông giăng khói mờ.
Lòng này không vực không bờ,
Như mây vô trụ hững hờ từng cao.
Như chim hoàng hạc non đào,
Phiêu bay muôn cõi khác nào bóng hoa.
Mây hồng đã hiện vừng xa,
Sông tây chênh chếch gương ngà nhạt soi.
Đường sương lóng lánh tia ngời,
Bước chân vô ngại cõi đời đua tranh.

NƯỚC VUA PHẠM THIÊN

Một hôm bên La Duyệt Thành,
Nơi vườn hoa trúc đôi cành hoa bay.
A-Nan ngồi dưới cội cây,
Trên tòa đá trắng sớm ngày sương vương,
Bỗng đâu thoảng gió trầm hương.
Ngài nhìn đôi bướm cánh hường ngất ngây.
Nghĩ rằng hoa để thơm cây,
Khác gì Phật hiện cõi này trần sa.
Như chiên đàn ngát ta bà,
Mây hương giới định cõi xa ngạt ngào.
Mười phương rợp bóng tàn đào,
Chúng sinh nương tựa khác nào cỏ non.
Vượt ba cõi mộng chon von,
Trải mưa chính pháp mãi còn nơi nơi.
Tạng kinh diệu lý trụ đời,
Làm nên suối mạch lũng đồi kết hoa.
Niết bàn là cõi trần sa,
Chúng sinh hiện tướng Phật Đà hóa thân.
Lòng như mây nổi chuyển vần,
Khiến đôi hàng lệ còn ngần mắt thu.
A-Nan dời cội hoa mưa.
Về nơi nhà cỏ trình thưa cha hiền.
Giữa rừng suối thoảng chim thiêng,
Như sông ngọc cuộn não phiền cát xuôi.
Dưới hoa pháp hội người người,
Trên cây ríu rít chim trời hoan ca.
Áo Phật như thái dương pha;
Như chuông ngọc úp giữa tòa hương bay.
Ngài giơ lên một nhành tay,
Như lan bạch ngọc diễn bày pháp thiêng.
A-Nan ngồi xuống một bên,
Ngưỡng trông thềm đá tỏ viền trăng cao.
Miệng ngài như nụ nhiệm mầu,
Mày cong cong uốn đôi cầu thanh vân.
A-Nan quanh Phật ba lần,
Trật y vai phải dáng ngần đá thơm.
Gối quì bạch Phật Thế Tôn:
“ Nhân gì phúc báo lưu tồn thiên thu.
Mở khai cửa ngục Diêm Phù,
Như chiêu dương hiện bên bờ đại dương.
Che tàn ngọc khắp mười phương,
Dựng cờ cứu độ sáu đường chúng sinh.
Hẳn trong kiếp kiếp phù trần,
Mỗi đời là một dấu chân đại từ.
Mỗi thân là ngọc chân như,
Mỗi lời là một thần thơ diễn bày?”
Phật rằng: “ Tâm chẳng đó đây.
Nghìn xưa cho đến giờ này khác chi.
Mười phương thế giới lưu ly,
Sinh ra rồi lại đến kỳ trụ không.
Vẫn là một thể tâm đồng,
Khác chi ảnh nguyệt trên sông sóng dời.
Như Lai thị hiện cõi đời,
Ứng thân giữa khắp cõi trời hóa duyên.
Cũng là một lẽ thiêng liêng,
Trong đời mê vọng dong thuyền độ tha.
Rồi ngài kể chuyện đời qua,
Trong quốc độ nọ vua là Phạm Thiên.
Có bốn sông chảy quanh miền,
Dòng thiêng vi diệu hóa duyên độ đời.
Trên sông bọt nước nổi trôi,
Tạo thành pháp bảo diệu vời vô ngôn.
Một sông diễn pháp vô thường,
Ghềnh sông nghi ngút mây hường hợp tan.
Khiến cho khắp cõi trần hoàn,
Nhìn sông người lại vượt đàn vọng ma.
Hai sông thuyết lẽ không ta,
Bọt sông hóa hiện muôn tòa kim lâu.
Soi mình dưới đáy cát sâu,
Khiến người vắng lặng hận sầu ngã nhân.
Ba sông thuyết bất tịnh thân,
Trên sông cát nổi muôn phần tanh hôi.
Soi mình mặt nước phù trôi,
Tự nhiên vượt thoát luân hồi thoát mê.
Bốn sông gió nổi bốn bề,
Thổi tan cảm thọ qui về tánh không.
Tâm vua hóa hiện bốn dòng,
Trí vua hóa mặt trời hồng tỏa soi.
Khiến cho nghiệp thức người người,
Phá tan tập kiến chuyển dời y nương.
Dù nơi làng trúc non sương,
Đâu đâu cũng hiện mây hường tàn che.
Kết thành hoa báu diệu kỳ,
Ngọc thêu ẩn hiện muôn vì sao trôi.
Lại thêm khánh hạc bồi hồi,
Bao âm thanh báu lưng trời vi vu.
Khiến người sạch oán tan thù,
Khiến người thoát khỏi tâm tu đạo mầu.
Lại thêm mấy núi trần châu,
Hào quang chiếu hiệu muôn lầu ảo hoa.
Gió đưa vi vút âm ba;
Khiến tâm thanh tịnh hiếu hòa hiếu sinh.
Dân muôn cõi nước hòa bình,
Đâu đâu cũng vẳng ca tình giao vui.
Thánh nhân thị hiện trị người,
Gây nên sức sống nơi nơi thuận hòa.
Một hôm mây kết tàn hoa,
Ngàn con chim trắng bay về hót vui.
Xa xa, từ phía mặt trời,
Cỗ xe mây hiện tỏa ngời hào quang.
Trên xe đặt cánh cung vàng,
Một con ấn ngọc, một tràng bảo châu.
Xe kim luân bảo đến đâu.
Tàn mây nhạc báu nhiệm mầu đạo ca.
Khiến cho rừng trổ trăm hoa,
Gió đưa hương đến muôn nhà gieo vui.
Vua ra thềm trước đứng coi,
Xe mây hạ xuống đón mời thánh quân.
Trong xe mây báu sẵn sang,
Vua ngồi giữa ánh hào quang sáng lòa.
Tay ngài giương chiếc cung ra,
Lưng mây lại trải mưa hoa cúng dường.
Rõ ràng đức chuyển luân vương,
Bốn dòng sông hóa bốn đường vàng châu.
Xe vua chuyển đạo nhiệm mầu,
Bốn đường là bốn nhịp cầu trí bi.
Người qua nghiệp sạch tham si,
Thần thông hóa hiện diệu kỳ lạ thay.
Vua là tiền thân Phật đây,
Thuở xưa trị nước ngày nay độ đời.
Nghiệp nhân vẫn tại lòng người,
Tự mình kiến tạo lấy nơi trú mình.
Khác gì chiếc kén tơ xinh,
Khác gì trăng rọi bóng mình không hai.
Cũng là tâm thể hiện bày,
Cũng là ảo hóa họp vầy duyên sinh.
A-Nan cung kính thưa trình:
“ Nhân chi tích tụ thánh luân tựu thành?”
Non cao có một thánh nhân ẩn mình.
Làm thơ giáo hóa chúng sinh,
Khiến người thoát khỏi vô minh nghiệp dầy.
Đến ngày thân trả gió mây.
Thành kia mới có người xây tháp thờ.
Khắc lưu pháp kệ thần thơ,
Trầm hoa cúng trải bốn mùa tôn nghinh..
Khiến người khai mở trí minh,
Đại từ bi cứu chúng sinh mọi loài,
Phước này thành quả vị lai,
Làm vua trị cõi trần ai bao lần.
Kiếp xưa làm chuyển thánh luân.
Kiếp này thành Phật muôn phần viên dung.
Cõi trần vô thủy vô chung,
Hết mê đến ngộ hết cùng đến thông.
Ngại chi kiếp kiếp trần hồng,
Nụ cười tự tại trong vòng trần lao.
Pháp hiền lưu chuyển nghìn sau,
Trong mê vọng hiện nhịp cầu từ quang.
Đó là tám nẻo đường vàng,
Đưa người thoát khỏi hầm hang lửa hồng.
Qui về diệu hữu chân không,
Vào ra vô ngại viên thông xá gì.
Dưới thềm rêu biếc lưu ly,
Khe hoa vẳng tiếng chim gì vọng âm.
Gió xa phảng phất non trầm,
Dưới dòng suối dục giây cầm nao nao.
Đôi con chim lạc sông nào,
Phiêu bay trong đám mây đào đầu hon.
Thông già đôi ngọc chon von,
Thiên thu biền biệt dấu còn xanh tươi.

XUỐNG BIỂN TÌM KINH

Một hôm đỉnh núi ùn hơi,
Mây trên linh thứu như trời rắc hoa,
Lưng non dưới cội mai già,
Bên hàng liễu rũ là nhà tịnh tâm.
Có suối vang vọng thần âm.
Tiếng đưa dường thoảng hương trầm lan bay.
Xa trông như biếc tàng cây,
Bóng che chở thế gian này khác chi.
Chư tăng đang tụng đại bi;
Trong đồi liễu rũ hoàng y chờn vờn.
Còn nơi động đá trầm thơm,
Riêng tòa bạch thạch Thế Tôn trầm từ.
Mắt ngài khép cõi không hư,
Môi tươi mỉm nụ chân như diệu vời.
Tay hoa định mấy từng trời,
Dáng như chuông ngọc khiến đời tịnh thanh.
Dưới tàng liễu họp thánh tăng,
Tôn phong hiền giả A-Nan hầu Người.
Vì hiền giả trí như trời,
Từ tâm vô lượng cõi đời không hai.
Nghe qua lòng nhớ chẳng sai,
Lại thêm biện thuyết là tài chuyên môn.
Quả như xứng bực nhân tôn,
Để thay đại chúng sớm hôm hầu thầy.
Trên nền cỏ mướt xanh tươi,
A-Nan quì lạy tạ lời tấn phong.
Nguyện rằng: “ Xin khắc ghi lòng,
Chuyển lời Phật dạy đến trong giáo đoàn.
Nguyện đem công đức này san,
Ra khắp muôn loại thế gian đồng đều.”
Nắng mai rực rỡ y điều.
Vây quanh rừng liễu của nhiều chúng tăng.
Tôn giả Ca Diếp tuyên rằng:
“ A-Nan xưa đã thường hằng hộ bên.
Trải qua muôn kiếp nhân duyên,
Bây giờ lại được bầu lên hầu người.
Quẩn quanh theo Phật chẳng dời,
Giữ kho tạng báu đời đời truyền lưu”.
Mục Liên thưa: “ lẽ cao siêu,
Thỉnh xin ngài dậy ít nhiều duyên cơ”.
Chung quanh tàng liễu bây giờ,
Bâng khuâng giải biếc hững hở gió lay.
Ca Diếp rằng: “ thế gian này,
Chúng sinh chuyên nghiệp họp vầy mà ra.
Khác gì ảo ảnh mây hoa,
Khác gì bọt sóng la đà ghềnh sông.
Bồ Tát hiện giữa trần hồng,
Tuyên lưu chính pháp suốt dòng thu xuân.
Như thông đỉnh tuyết xanh ngần,
Như trăng sáng giữa chuyển vần gió mây.
Xa xưa cũng ở châu này,
Lưng non kia có một ngày tịnh thanh.
Hiền tài khắp cõi truyền danh,
Vua muôn cõi nước dâng thành dưới tay.
Khác gì ngọn cỏ lá cây.
Tắm trong nắng mới một ngày đầu xuân.
Cậy nhờ đức lớn hiền nhân,
Đổi thay nghiệp cội, xa gần an vui.
Một đêm giấc điệp chơi vơi,
Vợ ngài mộng thấy hai người đáy sông.
Nhấp nhô theo sóng xuôi dòng,
Rẽ lên dâng khối ngọc hồng sáng soi.
Thưa rằng: “ Pháp tạng bao đời.
Nhân duyên giờ mới gặp người nên trao.
Phúc nhà như thể non cao,
Ta đem thánh chúng gửi vào cậy trông.
Bồ Tát dẫn cõi trần hồng,
Tuyên lưu chính đạo nối dòng Phật gia.
Chúng sinh như nước phù sa;
Tâm tâm kiến dựng muôn tòa trí bi.
Đức ngài là biển lưu ly,
Trí ngài nhật nguyệt diệu kỳ mở khai.
Ngự tòa vô thượng Như Lai,
Dắt dìu sáu loại trên đài vinh quang.”
Nói xong hóa cánh hạc vàng,
Với mây hồng tía đôi hàng bay cao.
Phu nhân tỉnh giấc chiêm bao,
Còn nghe hương thoảng cõi nào vấn vương.
Cứ như điềm mộng dị thường,
Hẳn sinh quí tử nối đường thanh cao.
Mới đem chuyện giấc mơ đào,
Bàn cùng chồng tính lẽ nào nên chăng.
Chàng rằng: “ nhân quả thường hằng,
Chúng mình tích đức sánh bằng biển sông.
Hẳn là cảm ứng hóa công,
Quả lành kết tụ trong dòng nhà ta.
Thế rồi sắm sửa trầm hoa,
Đến chùa cầu tự để mà ân chiêm.
Lại cùng nhau gắng tu thêm,
Phát nguyền cứu giúp quanh miền đó đây.
Kết thêm duyên phước sâu dày,
Vợ chồng tâm niệm đợi ngày trổ bông.
Lần hồi hết hạ sang đông,
Màn đêm đã hé vừng hồng một phương.
Sân chùa có triệu cát tường,
Cây hoa cổ đại, trái hường kết đôi.
Phu nhân sinh kẻ khác đời,
Mình rồng uy dũng, rạng ngời tướng tinh.
Nguyện chàng như cội đông mai;
Dù cho đá lở cát bồi sá chi.
Tự tâm đại trí đại bi,
Tỏa trên vừng tràn lạ kỳ đôi mươi.
Tai chàng như cánh sen tươi,
Hòa nhan ái ngữ nói cười ung dung.
Một đêm trăng giải không trung,
Tơ trăng vàng quyện một vùng bao la.
Nghe con chim Lạc về qua,
Thư phòng đẩy cửa Thí ra ngó trời.
Dưới trăng hoa tỏ tuyệt vời,
Sương sa giàn thấp mây dời núi cao.
Nền trời lấp lánh ngàn sao.
Trông lên như một hố nào hút sâu.
Chợt nghe một sức nhiệm mầu,
Xô tan thành quách trên đầu bỗng dưng.
Xanh ôi cỏ nội hoa rừng,
Dường như vạn vật tưng bừng reo ca.
Cõi lòng vời vợi bao la,
Xót thương muôn loại như là một thân.
Đắm chìm trong lửa tham sân,
Sinh, già, bệnh, tử muôn phần khổ thay.
Kiếp người như bóng mây bay,
Như sương ngọn cỏ đầu ngày nắng tan.
Thế mà suối lệ tuôn tràn,
Giả danh một cõi ai chan máu thầm.
Luân lưu ngục kho mê lầm,
Tự mình mình lại giam trong hận thù.
Biển còn tích lệ nghìn thu,
Lửa còn nung cõi Diêm Phù mãi sao.
Nguyện này xin có trời cao,
Ta thề xô cõi chiêm bao thế tình.
Cứu cho muôn loại sinh linh,
Khỏi cơn ác mộng giả hình giả danh.
Bỗng dưng trong đám mây xanh,
Hiện bầy tiên nữ dâng bầy hoa tươi.
Cánh hoa vàng ửng chói ngời,
Từ bàn tay ngọc trao người chùm bông.
Ví vu sáo nhạc từng không,
Lửng lơ như ánh tơ hồng vờn quanh.
Sớm sau đại thí vào thành,
Xin cha cho chút duyên lành kết gieo.
Lập nên mấy gánh hát chèo,
Diễn toàn những vở mong treo gương dầy.
Đạo hiền lan khắp đó đây,
Thần dân một cõi vui vầy ngợi ca.
Ví dù núi ngọc san ra,
Chẳng bằng khuyến hóa người ta tự mình.
Dứt lìa hết nghiệp vô minh,
Ở ăn sao được công bằng đó đây.
Bao nhiêu chuyện tích xưa nay,
Đều thành gương sáng đắp xây nước nhà.
Soạn xong Thí mới xuất gia,
Dựng am cỏ, rũ trần sa, tu hành.
Trầm tư phá mộng huyễn trần,
Đời đời giả tướng một lần tan mây.
Thế rồi đi khắp đó đây,
Tóc xanh nhuốm bụi áo mây bạc mầu.
Thênh thang cánh hạc về đâu,
Bước chân vô ngã có cầu ngại chi.
Cõi đời còn nặng tham si,
Cứu đời ta có, ước gì ngàn tay,
Cầm bằng chuộc tội cõi nàh,
Nguyện vào địa ngục đọa đày thiên thu.
Một chiều chàng đứng trầm tư,
Trùng dương vương mãi tiếng ru muộn phiền
Nhợt người tinh tấn bước lên,
Nghĩ rằng chân cứng đá mềm mới hay.
Nếu như cõi thế gian này,
Chẳng mê vọng ấy sao đầy trí bi.
Nếu ta chuyển được tham si,
Thì ta vào biển khác gì đường mây.
Nguyện xong đáy nước hiện bày,
Rõ ràng một cõi cỏ cây nhiệm mầu.
Trùng trùng ngọc vách vàng lâu,
Lưng non mã não trân châu chói lòa.
Lại thêm ao ngát liên hoa.
Mỗi đài ẩn chứa một tòa diệu kinh.
Sóng dâng bọt đến bên mình,
Kết thành hoa báu dưới chân người lành.
Đại thí đi đến bên thành,
Ác trùng thủy quái vây quanh bước ngài.
Hỏi rằng: đến kiếm chi đây,
Lấy gì để vượt cõi này cho qua?
Ngài đáp: ta có lòng ta,
Yêu thương muôn loại trong nhà trầm luân.
Có mười phương lớn làm thân,
Đi tìm thuốc chữa tham sân bệnh dầy.
Giờ ta tìm xuống thành đây,
Thử tìm diệu pháp khai bầy nhân thiên.
Ác trùng thủy quái quì bên,
Reo to: hơn hẳn thánh hiền xưa nay.
Chúng con trấn giữ cửa này,
Do tham sân nghiệp sâu dầy hiện ra.
Giờ xin người tự bước qua,
Chỉ là ảo ảnh sương sa mịt mù.
Thí dậy: “ khắp cõi Diêm Phù,
Cũng từ nghiệp thức thiên thu hiện bầy,
Chúng sinh mười cõi đất này,
Khác gì sóng nổi sương bay vật vờ.
Tụ tan như đám mây mờ,
Một nhân ái dục đôi bờ diệt sinh.
Mê thì sóng nổi mông mênh,
Ngộ rồi muôn cõi một hình vóc không.
Ý lời như áng mây vương,
Cho dù trăm nẻo trăm đường ngại chi.
Bao giờ dứt sạch tham si,
Giọt mưa cũng thể một vì sao rơi”.
Đáp xong lầu cát rạng ngời,
Tan như một đám sương dời sớm mai.
Giữa dòng cát hiện con trai,
Ôm nghiêng hạt ngọc như đài phù vân.
Đại Thí cất ngọc vào mình,
Bước chân dạo khắp u minh biển dầy.
Lần theo một đàn cá bay.
Lửng lơ nổi mở đường mây dẫn người.
Thung dung chàng đến một nơi,
Có hang sâu thẳm tỏa ngời hào quang.
Bọt vần uốn mấy bực thang,
Dưới lòng vực hiện xóm làng cỏ hoa.
Nào là lầu cát nguy nga,
Sóng xô thành nhạc rêu sa thành tàn.
Nào là sân bích vườn lam,
Bãi hoa nụ thắm đồi cam trái hồng.
Vân du Thí lại sanh lòn,
Đã đi đi hết dưới lòng biển khơi.
Tụt thang bọt nước tới nơi,
Thôn kia đã hiện tơi bời xương khô.
Nào là quỉ hú mơ hồ,
Nào là ma khóc lạc mồ tỷ tê.
Hôi tanh máu mủ gớm ghê,
Chung quanh lại sủi bốn bề nước đen.
Thương thay bao cuộc đua chen,
Nắm xương phơi trắng là phen cuối cùng.
Càng trông càng thấy não lòng,
Bùi ngùi nhỏ nước mắt trong, đôi hàng.
Giọt vừa sa, bãi xương tàn,
Tan đi hóa đám bụi vàng đùn cao.
Dưới trên như lỗ huyệt đào.
Dù cho hóa gió ra vào được đâu.
Tưởng rằng lấp ngọc vùi châu,
Cát từ từ đổ trên đầu bao la.
Thí ngồi quán tưởng trần sa,
Hòa cùng cát bụi một tòa thịt xương.
Cũng là tâm thể chân thường,
Hợp tan như áng mây vương sớm chiều.
Tâm thần bay bổng phiêu diêu,
Lâng lâng như một cánh diều lưng mây.
Thoáng như cát chạm bên người,
Lại như mai hạnh rụng rơi đầy mình.
Lòng thương trải khắp mông mênh,
Nghe thân thể nổi bồng bềnh đâu xa.
Giờ lâu ngài xả thiền na,
Dưới lòng hang đã vượt ra khúc nào.
Dặm xa thoáng gợn mây đào,
Vờn trên ngọn núi mù cao ngút trời.
Nào là hang động ùn hơi,
Đèn ma lửa quỉ nơi nơi chập chờn,
Tiếng người thét rợn từng cơn,
Lẫn trong tiếng sóng oan hờn giá băng.
Thí liền chỉ đất nguyện rằng:
Quyết vào địa ngục thắp trăng đại từ.
Mười phương tỏ cõi Chân Như,
Tan cơn vọng nghiệp qua bờ mê tân.
Lòng người chưa cạn tham sân,
Vạc dầu còn lửa nung thân đời đời,
Ý còn điên đảo dối đời,
Lưỡi còn cưa xẻ tơi bời xương da.
Ngục sầu chẳng khép khó ra,
Tự mình mình lại tìm nhà gai chông.
Đầy thân bảy hố lửa hồng,
Đeo thêm cùm kẹp là vòng nghiệp duyên.
Niết Bàn tám cửa thanh vân,
Xa thì muôn dặm mà gần tấc gang.
Thương thay sáu ngã bụi vàng,
Luân lưu kiếp kiếp con đàng vô minh.
Hỏi ai ai cứu được mình,
Tâm kia là đảo quang minh cậy nhờ.
Ngộ, mê chẳng cách đôi bờ,
Bừng con mắt dậy tan mơ giả hình.
Nguyện đau tâm bịnh chúng sinh,
Thân là cam lộ một bình lợi tha.
Nguyện yên sóng gió ta bà,
Chúng sinh vô lượng trần sa trở về.
Thệ lòng quyết bước chân đi,
Vừa vào địa ngục thiết vi trùng trùng.
Núi xưa tỏa động ngọc hồng,
Vạc dầu chuyển hóa thành bông sen ngời.
Tiếng kêu than hóa hương ngời,
Kết thành sương báu quanh người đại bi.
Đức ngài chuyển ngục Thiết Vi,
Thành trời tịnh độ lưu ly ngọc hồng.
Đau thương thành giải thoát trầm,
Mê si thành ánh trăng rằm tỏa soi.
Quỉ ma đổi tánh người trời,
Gông xiềng cùm kẹp thành hơi chiên đàn.
Ngục sầu chẳng ngỏ mà tan,
Dấu chân là cõi niết bàn tự tâm.
Độ đời đại nguyện vừa xong,
Hạc vàng lại cất cánh bồng suối mây.
Bốn vị long vương biển này,
Hóa ra một chiếc võng đầy trăng sao.
Đưa Đại Thí đến rừng nào,
Là muôn hoa nở ngạt ngào dâng hương.
Ngô khoai biêng biếc bốn phương,
Cũng căng mạch nhựa cúng dường thánh nhân.
Ngài vừa ngự xuống bên thành.
Thế gian che áng mây lành rộng xa.
Vào rừng thăm hỏi mẹ cha,
Bỗng dưng đất hiện hai tòa kim cang.
Lại thêm hoa kết lọng vàng,
Nụ xanh chiếu ánh hào quang chói ngơài.
Hương thơm dâng cúng hai người,
Ơn sinh dưỡng dục mấy trời công lao.
Bàng hoàng như giấc chiêm bao,
Trông ra bốn cõi ngọt ngào hoa hương.
Suối sông thành nhạc dị thường,
Như dây tơ oán dương đờn vô thanh.
Thấy con oai đức trọn lành,
Mắt soi nhật nguyệt mây thành vóc thân.
Từ ngày đường cuộc phù vân,
Trần gian in đậm dấu chân đại từ.
Núi sông mòn mỏi đợi chờ,
Một đi còn tưởng bao giờ gặp con.
Mẹ dù cạn lệ héo hon,
Cha dù ngóng nhạn đỉnh non tiêu điều.
Hướng nhìn thấp thoáng mây chiều,
Tưởng con trải bóng y điều vân du.
Năm trăm mây nước cầu tu,
Trầm tư đại đạo dẫu dù xương tan.
Bây giờ ngộ nhập pháp vàng,
Thí về mở rộng con đàn trí bi.
Tin lan khắp cõi thành kia,
Người kéo đến bốn bề y nuơng.
Non xanh thành chốn đạo trường,
Mây xanh kết chiếc tàn hương mở che.
Gió trời thổi sạch tham mê,
Sương lam đọng hóa lưu ly tràn đầy.
Ngạt ngào cõi đất hương bay,
Mù lòa sáng mắt mê say giật mình.
Ngài đem viên ngọc trí minh,
Giơ lên vạn dạng muôn hình biến ra.
Trái căng mật ngọt la đà,
Mầm tươi trổ đát muôn hoa nở bừng.
Ngọc vàng cát hóa hiện lên,
suối sông mã nảo bốn bên tỏa ngời,
Người không tham của rụng rơi,
Mê sân như bóng sương trời tan mau.
Chẳng còn ngu muội nghèo giàu,
Thoát vòng mê tối như nhau khác gì.
Ngài lại lấy ngọc đại bi,
Giơ cao ánh sáng diệu kỳ tỏa soi.
Chư thiên mười mấy từng trời,
Thắp đèn tinh nguyệt khắp nơi kéo về.
Cúng dường muôn dặm mây kia,
Kết thành lọng gấm bốn bề hoa giăng.
Chim ca mừng gió chiên đàn,
Thổi bay phiền não muôn ngàn chấp mê.
Chẳng còn thù hận ngăn che,
Muôn loài tỉnh thức quay về Phật tâm.
Bấy giờ thành thị sơn lâm,
Nhân thiên hòa hợp thú cầm an vui.
Hai viền diệu ngọc sáng ngời,
Kết thành một phiến mặt trời bay cao.”
Phật tiếp: “đó giấc chiêm bao,
Ngàn muôn kiếp mộng lao xao sóng dồn.
Núi tan cát hợp nên cồn,
Thế gian ba cõi vô thường đổi thay.
Nghiệp duyên muôn lớp thành dày,
Mảnh trăng tánh Phật lấp mây mịt mù.
Bây giờ phải gắng công tu,
Trau dồi thập thiện đền bù nghiệp căn.
Giữ gìn tâm trí đẹp lành,
Tốt tươi cũng ở lòng thành tỏ soi.”
Bấy giờ khắp quỉ trời người,
Lĩnh nghe pháp bảo diệu vời nhập thâm.
Ngài dậy nơi cõi hồng trần,
Hết tan lại hợp xoay vần biển dâu.
Tâm kia như khối minh châu,
Tỏa soi muôn cõi trước sau vẫn thường.
Dù cho muôn hướng muộn đường,
Ngàn sông về một đại dương khác gì.
Chân tâm đại trí đại bi,
Hiện bầy như thể muôn vì trăng sao.
Thế gian như áng mây đào,
Sương bay đầu sớm bọt trào biển sôi.
Biển xanh vỗng chốc nên đồi,
Bành xe ảo hóa giữa trời ai xoay.
Bây giờ thành Phật cõi này,
Hóa thân trí tuệ cỏ cây cũng là.
Mẹ xưa Hoàng Hậu Ma Gia,
Cha hiến thuở trước nay là Phạm Vương.
Bốn vua rồng trấn đại dương,
Giờ theo chính pháp một phương tu trì.
Kiếp xưa căng võng lưu ly,
Cúng dường chính đạo diệu kỳ mở khai.
Bây giờ bên đức Như Lai,
Như sao Bắc đẩu quanh đài sen hương.
A-Nan xưa kiếp long vương,
Đã từng dâng ngọc chân thường trí minh.
Khiến muôn cõi nước thái bình,
Xô tan vọng nghiệp chúng sinh đời đời.
Kiếp này phúc báo tuyệt vời,
Suốt thông, một ý một lời chẳng sai.
Triều âm như thể biện tài,
Phục hàng ngoại đạo mở đài liên hoa.
Cho dù muôn kiếp vào ra,
Bước chân đại nguyện trong nhà trầm luân.
Từ vô thủy đã bao lần gặp nhau.
A-Nan cung kính cuối đầu,
Bỗng dưng hoa tía trên đầu vờn bay.
Động Phật ngự chợt ùn mây,
Hào quang chiếu tỏa ngàn cây trái hồng.
Núi quanh chim cũng phiêu bồng,
Rủ nhau đậu khắp cánh đồng khoai môn.
Từ hang trầm ngát Thế Tôn,
Hào quang năm sắc dị thường tỏa xa.

BÀ BUÔN TƠ TRỢ ĐẠO

Một vàng sương cuộn như là bụi bay
Cúng dường trải xuống đài mây,
Đậu trên áo Phật hiện bầy hào quang.
Gió chăng phất phới mây vàng,
Nắng pha sương nhụy ươm hàng tơ rơi.
Quanh thềm đá hiện rừng người,
Chắp tay búp ngọc nở mười phương hoa.
Phật như chuông ngọc đỉnh tòa
Tiếng ngài hòa tiếng chim ca dặm ngoài.
Khiến nên thấp thoáng hoa bay,
Trên dòng suối ấm đầu ngày về sông,
A-Nan dưới cội mai hồng,
Tuyên lời Phật dạy như đồng chuông ngân.
Cành sương lá động tần ngần,
Hạt sa theo ngọn đuốc thần âm đi.
Mắt hiền giả biếc lưu ly,
Mũi cao núi dựng môi kỳ hoa khai.
Trán no vầng tỏa thiền oai,
Lan thanh khép nép búp tay đại hiền.
Lời vàng gió thoảng hương lên,
Khiến người vượt thoát hai miền có không.
Tâm như mười cõi mênh mông,
Là xanh chim núi là hồng bãi hoa,
Là sông biêng biếc la đà,
Là hương thoang thoảng quanh nhà nhụy bay.
Dù cho hạt móc gợn mây,
Cũng như hiện thể tỏ bày chân tâm.
Ôi! A-Nan giữ thuyền lâm,
Dáng từ khiến cả thú cầm họa theo.
Dưới thềm đại chúng tỳ kheo.
Khởi tâm kính ngưỡng những lời trên đây.
Lại rằng: Người xuống cõi này,
Thân như hạc nội hoa lay giữa ngàn.
Tuyên lưu trí Phật pháp vàgn,
Mỗi lời là ánh từ quang tỏ ngời.
Chẳng hay tu tạo bao đời,
A-Nan nay đẹp tuyệt vời thế gian,
Lòng đang suy nghĩ miên man,
Chợt nghe Phật dạy con đàng tiệm tu.
Rằng: “ nơi ảo hóa Diêm Phù,
Nghiệp như con nghén rút tơ làm mình.
Nằm trong chiếc vỏ nôi xinh,
Rồi ra mọc cánh hóa hình tung bay.
Có con trọn kiếp tù đày,
Thoát sao khỏi chiếc kén dầy mà ra.
Tự ta ta lại buộc ta,
Quẩn quanh sáu ngả, một nhà lửa sân.
Thức như lốc cuộn mây vần,
Tạo nên giả ngã phù vân đổi dời.
Biển trần ào ạt sóng khơi,
Cũng từ vọng nghiệp cõi người hóa sinh.
Bao giờ phá sạch vô minh,
Như con ngài nọ hóa hình bay cao.
Dù cho cuộc thế ba đào,
Hóa thân tự tại ra vào như không.
Dù cho tam thế lửa hồng,
Cũng là sen ngát trầm xông ta bà.
Có ta thì lại không ta,
kể chi thâm giận ái hà sục sôi,
Còn như ảo huyễn không dời,
Bực thang khôn dại chợ đời tranh đua.
Cuộc trần mãi giấc say sưa,
Quên đi mình vẫn dư thừa tại tâm.
Chấp thêm huyễn giác mê lầm,
Đôi tay nắm giữ bóng tăm chim trời.
Một khi dứt ý lìa lời,
Tự tâm thanh tịnh tỏ ngời minh châu.
Chỉ còn hiện hữu nhiệm mầu.
Sông mê dù chẳng đò cầu cũng qua.
Không ta thì lại có ta,
Vào trong tham dục dựng tòa Như Lai.
Bao dung muôn tính muôn loài.
Nụ hoa hạt bụi không ngoài chân tâm.
Dù nơi tăm tối mê lầm,
Kìa nơi vạc lửa nọ hầm nước reo.
Dù cho trăm vạn hiểm nghèo,
Hóa thân Bồ Tát dắt dìu chúng sinh.
Gây bao phương tiện chính chân
Khế căn cơ chuyển hồng trần tham si.
Như sen giải thoát lưu ly,
Cội hoa bất nhị xá gì bùn đen.
Nhớ xưa có một nhân hiền,
Làm nghề dệt lụa khắp miền đổi trao.
Thấy người loạn tưởng lao xao.
Ý lời điên đảo kết vào nghiệp nhân.
Ruổi theo dục lạc tham sân,
Bầy trò huyễn ảo muôn phần hại nhau.
Giam trong giả tướng ưu sầu,
Càng thêm ái dục càng thêm oán thù.
Trí căn như ngọn đèn lu,
Nghi tâm như thể sương mù giăng vây.
Bọt bèo kiếp sống lất lây,
Cuộc đời là một lưu đày chung thân.
Chẳng còn biết nghĩa biết nhân,
Tâm linh nhựa cạn cây dần héo khô.
Chấp vào giả tướng mê đồ,
Trận cười hư ảo nấm mồ thây chung.
Hiền kia suy gẫm mông lung,
Làm sao dệt được trùng trùng khổ đau.
Quyết lòng hưng vượng đạo mầu.
Pháp hiền hóa chuyển ưu sầu thế nhân.
Phù trì đạo lý chính chân,
Thỉnh cầu nhật nguyệt cõi trần tỏa soi.
Chí như ngọc trụ chống trời,
Dù trong phố chợ khôn dời giới trai.
Đức người như cội đông mai,
Giữa nơi tuyết giá nào sai nguyện lòng.
Cánh hoa hiện giữa trần hồng,
Trang nghiêm cõi Phật một bông đại từ.
Thường đem diệu pháp chân như,
Kết thành nhạc, họa, vần thơ khuyến người.
Dù nơi dục lạc ăn chơi,
Cũng tuyên diệu pháp khiến người hồi tâm.
Hiền giả hiện tướng Quan Âm,
Giữa nơi đen tối mê lầm mà ra.
Lụa tơ thành cõi Di Đà,
Phật là thiện mỹ có là riêng ai.
Đạo hiền như sớm mưa bay,
Khiến cho hoa cỏ trưng ngày hội xuân.
Lại thường ngăn ác phù chân,
Lời như suối mát giữa thân đại từ.
Giắt người khởi phát tâm tu,
Bỗng dưng phiền não hận thù tiêu tan.
Giúp người lận đận cơ hàn,
Bát cơm là cõi niết bàn tự tâm..
Lòng từ theo ngọn thần âm,
Như mưa trải khiến mê lầm sạch băng.
Một hôm đổi lụa quanh vùng.
Qua thôn kia chợt thấy vừng hào quang.
Hiện ra như chiếc tàng vàng,
Vội theo chân đến đầu làng ngó coi.
Bên đường hiện rõ một người,
Ôm bình hóa độ dịu dàng áng mây.
Áo người cỏ lướt sương bay,
Bước chân khiến rộn đầu ngày chim ca.
Môi tươi thu ẩn chim hoa,
Thung dung tự tại qua nhà tịnh yên.
Nhác trông lòng nhẹ trăm phiền,
Thưa rằng: ngài trụ chùa miền nào qua.
Sư rằng : ba cõi là nhà,
Trụ nơi vô trụ có là phương nao.
Như chim hồng hạc bay cao,
Ra nơi gió cuộn lại vào cửa mây.
Hôm qua vừa đến vùng này,
Thấy non kia có động mây dị kỳ.
Đá như mã não lưu ly,
Hoa từ nở đóa chim bi hót chào.
Có khe suối vắt tơ đào.
Dường như mây tự đỉnh cao rụng rời.
Cùng thầy, ta ghé đó chơi,
Mở kinh hiền tụng giữa trời gió thơm.
Suối vô thanh nọ hòa đòn,
Chim reo mõ tụng, mây vờn trang thơ.
Cảnh khai ý Phật truyền thừa.
Chân tâm hiện mở trên tờ kinh sương.
Sáng nay qua xóm mây hường,
San chia phuớc báu, cúng dường trầm ai.
Để gieo duyên với Như Lai,
Kết thành hạt quí trên đài sen hương.
Bà kia quỳ xuống bên đường,
Con xin mãn kiếp cúng dường thánh tăng.
Để nơi u cốc gò trăng,
Thầy yên tịnh niệm dẫu rằng muôn thu.
Chuyển khai đạo giữa Diêm Phù,
Lời kinh mở ách gong cùm chúng sinh.
Dưới dòng giải thoát ngâm mình,
Khơi đèn tuệ nghiệp trí minh độ đời.
Là gương phúc huệ diệu vời,
Là tháp bảo ngọc người trời kính tôn.
Cõi trần mở cánh vô môn,
Là kho giống báu lưu tồn thiên thu.
Là xe vàng chuyển luân vua,
Là gươm tánh trí mê mờ dẹp tan.
Về khơi lửa giữa đông hàn,
Chơ mười phương cõi thế gian sưởi nhờ.
Như thần phong thổi mây mờ,
Cho lời đại giác vần thơ vọng về.
Con xin đi khắp thành quê,
Hóa duyên những kẻ chưa hề phát tâm.
Gật đầu sư bỏ vào rừng,
Nhập thâm Phật lý nở bừng tuệ căn.
Nhân gian kết đám mây lành,
Ngục sân cho đến trời xanh cũng về.
Nương theo đức huệ trí bi,
Giữa luân hồi đảo lưu ly sáng ngời.
Người buôn tơ phúc tuyệt vời,
Phù trì chính đạo ngăn người lầm mê.
Bao nhiêu kiếp, hạt bồ đề,
Là căn chắc thật nay về thế gian.
Chính là hiền giả A-Nan,
Như ngọc giữa cõi bụi vàng hiện ra.
Vị sư kia chính là ta,
Nay thành Phật đạo ngồi tòa Như Lai.
Thầy ta xưa trụ cõi này,
Là Định Quang Phật, trần ai độ trì.
Nghe xong người tỉnh tham si,
Phát tâm hộ đạo kể gì thời gian.
Quanh non hiện giải sương vàng,
Kết thành sen quí vô vàn hương bay.

CHIM NON SOI NƯỚC

Ngày xưa trong ấp bạch mai,
Chủ nhân có một trang đài tiểu thư.
Cẩm Hồng nàng độ đào tơ,
Lầu riêng khép nguyệt nhụy vừa hương bay.
Khi ra khiến bướm vờn say;
Khi vào khiến cả cỏ cây ngẩn lòng.
Tơ duyên đã ướm thôn trong,
Cùng chàng họ Bạch cũng dòng hiền gia.
Tưởng mau sum họp một nhà,
Trai tài gái sắc đậm đà vườn xuân,
Mới hay cuộc thế phù vân,
Đổi thay như nắm hồng trần hợp tan,
Ngày xum họp tưởng tấc gang,
Ai ngờ dài mấy trăm tràn gió đông.
Tưởng nhà trai nhuộm pháo hồng,
Ai ngờ một sớm đôi vành khăn xô.
Mẹ cha lại còn hai mồ.
Cảnh nhà còn lại lá khô xạc xào.
Anh em chạy vạy nuôi nhau,
Đói no bữa cháo bữa rau gọi là,
Gia tài còn mỗi mái nhà,
Đem soi trăng học, ngày ra cuốc vườn.
Riêng nàng thơ thẩn nhớ thương,
Một mình lầu nguyệt vườn hương giãi dầu.
Anh em quấn quit bên nhau,
Láng giềng thân tộc trước sau mấy người.
Nhà xưa nói nói cười cười,
Bây giờ dế lại đêm lơi rì rào.
Nhà xưa vâng dạ thưa chào,
Bây giờ lời thấp tiếng cao nọ này.
Thôi thì thù đặc oán bày,
Đã dìm xuống đất lại dày bùn đen.
Bạch Hùng bàn với người em:
“Ở nhà sớm tối lửa đèn khói nhang.
Còn anh ra biển buôn vàng,
Ở đây chỉ tổ xóm làng cười chê.
Ba năm tang hết đã kề.
Còn lo xin cưới chị về sum vui.
Tránh sao miệng thế cười chê,
Phải đành buôn biển kiếm lời ngọc châu.
Chẳng hơn ở mãi bên nhau,
Bát cơm khốn đốn lá rau nhọc nhằn.
Thôi thì thôi vậy cũng đành,
Một đôi chuyến hẳn lời, anh lại về.
Trông nom hai nấm mồ kia,
Khói nhang sớm tối mọi bề cậy em.”
Thế rồi sắm sửa lên thuyền.
Lại sang nhà vợ nỗi niệm cạn thưa.
Nhạc gia dạy: có duyên xưa,
Một lời đã hứa dẫu chờ bao năm.
Chúc con xuôi gió thuận buồm,
Việc nhà đã có ta thường thăm lui.
Chàng lại dặn vợ bùi ngùi,
Ngổn ngang trăm nỗi, gượng vui kẻo là.
Người chau liễu kẻ rầu hoa,
Áo ai đẫm lệ biết là bao nhiêu.
Nửa năm dong ruỗi là nhiều,
Sang xuân anh sẽ có điều cậy thưa.
Thân này nhạt gió nhòa mưa,
Bóng hình em biết bao giờ cho phai.
Cẩm Hồng lệ vắn lệ dài,
Tiễn chàng về để sớm mai lên đường.
Gà vừa eo óc canh sương,
Đã đưa anh đến bến trường giang kia.
Dặn dò; thu tới anh về,
Nín đi em, chớ có hề khóc than.
Dùng dằng lệ lại chứa chan,
Nhìn anh dưới cánh buồm vàng nắng tươi.
Dần xa xa khuất chân trời,
Bạch Đàn giờ mới chịu dời gót chân.
Về nhà sau trước buồn tênh,
Thương mình cô quạnh lại phần nhớ anh.
Đêm ngày biếng ngủ lười ăn,
Tháng sau nhuốm bệnh muôn phần nguy cơ.
Nhạc gia đã nhận lời nhờ,
Nỡ nào mặc trẻ bơ vơ một mình.
Đón về săn sóc tận tình,
Lần hồi Đàn mới yên bình như xưa.
Về thì nhà dột phên thưa,
Đành nghe ở lại nương nhờ mai trang.
Ông cho theo học cùng nàng,
Tiểu Hồng phận chị, Bạch Đàn phận em.
Khi thì đèn sách đua chen,
Khi thì câu cá hái sen vui vầy.
Chị em còn tuổi thơ ngây,
Như đôi chim nhở tối ngày tung tăng.
Nhớ anh lòng cũng nguôi dần,
Hạ qua vèo lại tới gần cuối thu.
Bóng anh biển vẫn mịt mù,
Thời gian theo gió vụt vù qua mau.
Hoa thay hoa lại phai màu,
Bến chờ cô quạnh có đâu thuyền về.
Thế rồi ve lại kêu hè,
Thế rồi thu lại rừng hoe lá vàng.
Sông ngoài chỉ thấy chim sang,
Bến xưa lấm tấm đôi hàng hoa thu.
Sóng xa khói vẫn mịt mù,
Hỏi chim chim lại cất vù cánh bay.
Bâng khuâng hỏi gió hỏi mây,
Mây im lặng đến hợp bầy núi xa.
Thời gian như ngựa vụt qua,
Đoạn tang rồi, cánh buồm xa chửa về.
Dò tin kẻ chợ người quê,
Càng mòn mắt đợi càng nề lóng trông.
Thế rồi mưa dục cành đông,
Xuân thu như vệt khói hồng tan mau.
Mãi vui vườn trước đồi sau,
Tình chị em đã nhuốm màu tư riêng.
Bến sông vẫn bặt con thuyền,
Bến lòng đã bặt nỗi niềm đợi trông.
Bóng người khuất tám thu đông,
Chia tay từ độ xuân hồng mười lăm.
Chàng thì chim bóng cá tăm,
Nàng thì mắt vọng xa xăm dõi chờ.
Lẽ nào lệ bạc áo tơ,
Lẽ nào lầu tía hững hờ gió xuân.
Một hôm có khách dừng chân,
Hỏi ra cũng bọn thương nhân biển hồ.
Mới hay cuối sóng bèo xô,
Người xưa thân đã gửi mồ biển xanh.
Khóc anh khăn lệ khôn ngăn,
Mặc người khuyên bảo dỗ răn đủ điều.
Tưởng khi mái dột nhà xiêu,
Đói no ấm lạnh sớm chiều có nhau.
Tưởng ai thưng gạo mớ rau,
Nắng mưa lủi thủi dãi dầu nuôi em.
Tưởng khi chân bước lên thuyền,
Nhìn nhau cười gượng đôi viền lệ rơi.
Những mong buồm thuận gió trời.
Sang thu thuyền lại ghé nơi bến làng.
Xum vầy dưới ánh trăng vàng,
Hái hoa ủ rượu xuân sang tiệc nồng.
Ai ngờ biền biệt thu đông,
Thuyền xưa chẳng lại bến sông bẽ bang.
Nào hay nước réo mênh mang,
Chiết thây bèo dạt trên hàng sóng cao.
Ngờ đâu buổi ấy đưa nhau,
Đôi hàng lệ nhỏ là câu tạ từ.
Bao giờ còn có bao giờ,
Gặp nhau hồ dễ trong mơ thoảng về.
Thương anh mặt héo lòng tê,
Đêm về nền cũ ngồi hè trăng soi.
Chiều ra sông đợi mây trời,
Thẩn thờ ngó trước, rã rời ngóng chim.
Tiểu Hồng an ủi ngày đêm,
Rủ đi đây đó hầu quên lần hồi.
Khi ngoài suối khi đỉnh đồi,
Lửa rơm lần đã thành đôi chẳng lìa.
Thôi thì tóc kết trăng thề,
Thôi thì đợi nguyệt vai kề thêm lan.
Vườn xuân lại trổ hoa vàng.
Chị em giờ đã đổi sang vợ chồng.
Mười năm bến đợi thuyền sông.
Nước xuôi biền biệt nào mong ngày về.
Chẳng đành nghe tiếng chim kia,
Nó kêu như dục xuân thì qua mau.
Cũng là ân trước nghĩa sau,
Duyên anh lại trở qua mầu tình em.
Ba năm chăn gối êm đềm,
Ấp mai thêm tiếng trẻ hiền reo vui.
Tưởng rằng ngày tháng trôi xuôi,
Lòng ai liệm chặt bóng người năm xưa.
Nào dè một sớm giăng mưa,
Có người thất thiểu tìm về thôn mai.
Quần tơi áo tả sờn vai,
Mắt sâu thăm thẳm thân gầy gầy trơ.
Nhìn nhau chết lặng sững sờ,
Nửa e quáng mắt, nửa ngờ chiêm boa.
Mười năm lạt gấm phai đào;
Mười năm bến nước nhạt mầu thời gian.
Tưởng người đáy biển xương tàn,
Bây giờ hiện đến trong màn lệ rơi.
Bạch Hùng kể chuyện chân trời,
Lênh đênh ngọn sóng khôn dời lòng quê.
Thương nàng nến đợi phòng khuê,
Gối hoen lệ thắm, trăng kề phòng đơn.
Lại thương em chốn cô thôn,
Ốm đau khi sớm khi hôm nào chừng.
Xóm giềng nước lã người dưng,
Biết ai thuốc sắc cháo bưng cậy nhờ.
Cũng mong sớm trở làng xưa,
Ai ngờ một buổi gió mưa đọa đày.
Bốn bề gió vặn sóng vây,
Thuyền chim nào biết gió mây vật vờ.
Ngất đi nào biết bao giờ,
Tỉnh ra đã thấy giạt bờ biển nao.
Quanh mình tiếng nói xôn xao,
Thổ dân sau mới khiêng vào nhà tranh.
Đôi ngày rau trái tỉnh dần,
Có đi mới biết đường trần bao la,
Đảo này ở giữa ấn hà,
Bốn phương mờ mịt quê nhà phương nao.
Lâu lâu mới một thuyền vào,
Đổi vàng kiếm gạo, dân nào lạ đâu.
Thế rồi ngày tháng qua mau,
Xuân thu tưởng đã bạc đầu nơi đây.
Nhớ nàng lòng vẫn chưa khuây,
Quyết lòng đạp sóng biển này mà đi.
Tử sinh thì có tiếc chi,
Đóng bè vượt biển theo vì sao lơi.
Gian nan kể mấy tháng trời,
Bao lần tưởng đã trút hơi thở tàn.
Dập dềnh giữa biển mênh mang,
Một chiều thấy cánh buồm vàng phương xa.
Lòng như xuân lại bừng hoa,
Vẫy áo ra hiệu gào la gọi thuyền.
Buồm xa dường biết lại gần,
Lệ khô giờ cũng hoen ngần mắt sâu.
Cố hương mờ mịt nơi đâu,
Bỗng nhiên hiện rõ trong đầu tấc gang.
Tưởng trông nàng biếng điểm trang,
Tưởng gặp em dại võ vàng chờ mong.
Tưởng đời lại trổ màu hồng,
Mà nghe máu chuyển tim lòng ngực va.
Trong anh hình bóng quê nhà,
Dường như một lúc hiện ra rành rành.
Nhấp nhô sau đợt sóng xanh,
Thuyền xa đã thấy đôi mành hiện lên.
Nỗi mừng như dại như điên,
Tưởng như đang ở đất liền quê hương.
Nghĩ mình gửi xác trùng dương,
Ai ngờ thần thánh còn thương đón về.
Nhưng khi thuyền nọ vừa kề,
Cứu lên, như giữa cơn mê điếng hồn.
Quanh thuyền treo mấy khung xương,
Trên sàn trực sẵn những phường đầu trâu.
Nghe đồn giặc biển đã lâu,
Moi gan uống máu khác đâu thú rừng.
Bây giờ thôi hết cầu mong,
Thế thôi đành cũng cho xong kiếp người,
Trói vào tra khảo một hơi,
Ngất đi còn biết đất trời là đâu.
Tỉnh dần giữa một hầm sâu,
Sờ quanh gầm một thân tàu đong đưa.
Kêu trời trời thấu cho chưa,
Tưởng rằng lối thoát ai ngờ đường ma.
Góc hầm thoảng tiếng rên la,
Hỏi xem mới biết cùng là tù nhân.
Gã kể sau trận cướp thuyền,
Bao nhiêu hàng họ bạc tiền sạch không.
Bây giờ giữa chốn lao lung,
Nào hay trời đất vô cùng là đâu.
Trong tay bọn quỉ ngựa trâu,
Kể như xác đã vùi sâu đáy mồ.
Thế rồi hai kẻ thân cô,
Ngày ngày được chút cơm thừa cá ôi.
Tưởng rằng đời đền thế thôi,
Một hôm lại vẳng tiếng cười xôn xoa.
Hẳn thuyền đang ghé bến nào,
Giờ lâu có một tên vào giắt lên.
Thấy toàn giáo mác cung tên,
Mới hay ghé đến một miền đảo xa.
Người gì như quỉ như ma,
Vây quanh đống lửa thét la rợn người.
Bọn ta đưọc dẫn tới nơi,
Làm hàng đổi chác kiếm lời vàng châu.
Cuộc đời còn tiếc chi đâu.
Bưng tai nhắm mắt cuối đầu lê chân.
Cầm bằng cái chết đã gần,
Tử sinh ai chẳng một lần mà thôi.
Chờ cho bọn cướp đi rồi,
Bây giờ dân đảo mới lôi ta vào.
Chung quanh đống lửa chất cao,
Ngả nghiêng cười nói lao xao hát hò.
Chừng như sợ quá hết lo,
Bạn ta ngỏ ý bầy trò làm vui.
Giở trò ảo thuật lừa người,
Khiến cho cả bọn nói cười bặt yên.
Hẳn tưởng phù phép thần tiên,
Bấy giờ chúa đảo đúng lên dấu mời.
Thổ dân quỉ mọp quanh ngườio,
Rồi đưa ta đến lưng đồi xanh cao.
Tưởng rằng loé mắt chiêm bao,
Giữa đền châu ngọc như đài gương soi.
Thờ thần đầu thú mặt người,
Chung quanh ngọc điểm hoa tươi rỡ ràng.
Mọi người đốt đuốc hát vang,
Bạn ta ngồi chiếc đôn vàng tôn phong.
Lễ mừng sung bái đã xong,
Hai ta làm chủ đền thần từ đây.
Tưởng rằng hầm tối chôn thây.
Ai ngờ lạc đến đảo này là đâu,
Nhưng dù trên đống vàng châu,
Mà lòng nhớ bữa cơm rau quê nhà.
Đêm đêm gối lệ đầm sa,
Nhìn mây bay tưởng mây qua xóm nào,
Chỉ mong là giấc chiêm bao,
Tỉnh ra lại thấy tre cao bóng dài.
Nhưng rồi tiếng sóng reo ngoài,
Nhắc chi gối lệ ai hoài chứa chan.
Bàn nhau đem chút hơi tàn,
Quyết tìm cho được con đàng vượt qua.
Đói no ở chốn quê nhà,
Còn hơn châu báu biết là mấy mươi.
Quẩn quanh thoảng cả năm trời,
Một chiều nhác thấy buồm dơi ghé ngoài.
Mừng mừng tủi tủi nghẹn lời.
Bõ khi đất khách trông vời cố hương.
Trốn đi theo bọn khách thương,
Lênh đênh cưỡi sóng trùng dương trở về,
Phen này quyết ở lại quê.
Ối thôi, vàng ngọc chẳng hề vấn vương.
Tháng ngày dong duỗi tàu buôn,
Cuối năm qua đến nam phương cặp bờ.
Chia tay hai kẻ lệ mờ,
Bắc Nam rồi biết bao giờ gặp nhau.
Anh còn một hạt trân châu,
Bán đi, sắm sửa hôm sau lên đường.
Vượt qua muôn dặm vạn trường,
Bao nhiêu thành lũy biên cương chẳng nề.
Chỉ mong thấy lũy tre quê,
Thấy nàng cắt tóc trao thề dưới trăng.
Nói rồi, tiến lại xăm xăm.
Bạch Hùng ôm chặt Cẩm Hồng trong tay,
Bốn hàng lệ chảy đầm vai,
Rằng Hùng nhớ ánh mắt ai dõi chờ.
Nên khi giữa biển bơ vơ,
Mắt kia giục kiếp sống thừa gắng qua.
Bỗng dưng Đàn bước vào nhà,
Thấy chồng vội đẩy Hùng ra khóc ròng.
Người anh ngoái lại thấy em;
Sự tình chợt hiểu cớ duyên thế nào.
Vì ta nàng mới phai đào.
Mười năm chẳng lẽ ra vào đợi trông.
Hùng bưng mặt chạy ra sông,
Thôi thì gửi nắm bụi hồng đất quê.
Đàn giờ đã rõ ai kia,
Tỉnh ra, mới đuổi theo kề gọi vang.
Người anh đến bến đò ngang,
Bến xưa vẫn cội hoa vàng hắt hiu.
Đã nghe em gọi kề theo,
Quay nhìn lần chót, thân gieo xuống dòng,
Ầm ầm nước réo mênh mông.
Bạch Đàn nhảy vội xuống sông cứu người.
Cẩm Hồng cũng kịp tới nơi,
Ôi thôi người lại theo người ra đi.
Sóng dâng từng cuộn xanh rì,
Dưới làn nước bạc còn chi mà tìm.
Người người tới kịp ngăn xin,
Nàng toan đem ngọc gieo trên sóng dài.
Chợt nghe tiếng hót bên tai,
Con chim xanh đậu trên vai lúc nào.
Tiếng nghe tha thiết nghẹn ngào,
Dường hồn chàng đã nhập vào cánh chim.
Thế rồi bay lượn vòng lên,
Đậu cành hoa nọ dõi tìm trên sông.
Người dìu nàng lại thôn Đông,
Lặng nhìn con ngủ bềnh bồng nôi trao.
Lại nghe tiếng hót chim nào,
Thì ra, chàng đã bay vào đậu bên.
Vẻ đang giỗ giấc con hiền,
Lại như an ủi sầu miên lòng người.
Ngước lên nhìn áng mây trời,
Rồi bay mất hút giữa nơi hoa ngàn,
Lòng Hồng sầu hận chứa chan,
Tình ơi nửa giấc mơ vàng đã bay.
Thế rồi năm chóng ngày chầy,
Thương ai cây cỏ cũng gầy xót xa.
Mặc người cợt liễu cười hoa,
Bồng con thơ dại vào ra một mình.
Khi đêm thấp thoáng lửa huỳnh,
Ầu ơ hát khúc ân tình , chợt đau.
Lại khi tưới cải vườn sau,
Hoàng hôn vàng vọt thêm sầu áo ai.
Khi buốn ngó chiếc sao mai,
Chim bay mấy thủa đợi hoài chưa sang.
Một chiều theo áng mây vàng,
Trên không xao xác một hàng chim lơi.
Nghiêng nghiêng đậu xuống bên người,
Một con ngậm cánh sen tươi trao nàng.
Cánh hoa như thể nhung vàng,
Chữ ai thảo sẵn một hàng Phật danh,
Chàng cho, đây hẳn duyên lành,
Nàng từng nghe ở bên thành rừng lê.
Có Phật dạy đạo Bồ Đề,
Ngày mai này quyết theo về trú nương.
Sáng sau bồng bế lên đường,
Bước chân thẳng đến rừng hương đại từ.
Ngõ vào hoa mái hoa mơ,
Gặp Phật đang đứng bên bờ suối xanh.
Đã nghe sầu hận tan tành,
Chấp tay lễ đấng cha lành nhơn thiên.
Phật triền: “ kiếp mộng triền miên,
Như tơ giăng mắc mối duyên trùng trùng.
Trả vay mãi cuộc trần hồng,
Đắp thêm hư ngụy muôn trùng chiêm bao.
Muộn phiền chất mãi non cao,
Trăm năm rồi cũng tan vào cỏ hoa.
Ngày nay vượt sóng mê hà,
Như sen nở giữa ta bà tuyết băng.
Muôn thu rực rỡ viền trăng,
Trí bi là đạo thường hằng sáng soi.
Lần hồi hoa tiếp hoa tươi,
Cửa thiền thanh tĩnh có người nữ tu.
Một đêm ven suối trầm tư,
Cánh chim soi nước hiền từ đậu bên.
Dòng xuân ngâm mảnh trăng liềm,
Chợt đâu cá đớp bóng hiền ni cô.
Nước xuôi xuôi mãi bao giờ,
Cho con chim đợi bên bờ ngó theo.

NHÂN QUẢ CHẲNG DỜI

Xưa, nơi ngàn biếc thông reo
Chim muôn giọng hót, bướm nhiều cánh tươi
Nhìn lên triền núi khơi vơi
Cạnh dòng suối nhạc, gần trời mây non.
Có nhà mái cỏ chon von,
Cảnh người gà trống nuôi con ngậm ngùi.
Bữa khoai, bữa sắn lần hồi,
Sao thưa nhớ bạn, trăng vơi khóc tình.
Chàng thường ra nấm mộ xanh,
Tưởng hồi chồng vợ lênh đênh bước đầu.
Khi nàng quyết bỏ mái lầu,
Cho duyên thôi chẳng nghèo, giầu cách ngăn.
Theo chàng vẹn nghĩa trăm năm,
Thân tơ nắng giãi mưa dầm cũng xin…
Cùng nhau trót nặng tâm nguyền,
Đành mang tội với ơn trên sanh thành.
Đêm vàng, quì lạy trời xanh:
“ Sinh con, cha mẹ cũng đành như không!
“Giờ con cất bước theo chồng,
“ Nghĩ về chữ hiếu, một lòng xót xa…”
Thế rồi giã biệt trại hoa,
Thế rồi, vó ngựa trăng tà ruổi mau.
Dặm dài mưa nắng bên nhau,
Tháng ngày trôi nhẹ trong màu thương yêu.
Chân qua thôn xóm đã nhiều,
Theo dòng suối ngọt một chiều tới đây,
Thiên đường riêng cõi non tây,
Có khe suối cuộn ngàn mây xuống rừng.
Có chim ca hát tưng bừng,
Bên nhà mái cỏ lẫn vừng sương lam.
Vợ chồng cấy sắn ươm lang.
Bắt giàn bí đỏ hoa vàng bờ khe.
Đốt rừng trồng mít, trồng chè,
Xuân trong mây nổi thu nghe lá vàng.
Nuôi nhau dưa muối nghèo nàn,
Mà lòng chung một niết bàn bướm hoa.
Tháng ngày như bóng chim qua,
Như dòng suối cát bên nhà quẩn quanh.
Đến khi nàng báo tin lành,
Đầu xuân hé điểm trên cành chồi bông.
Thấy ai má thẹn ửng hồng,
Lòng ai chừng có muôn dòng suối reo.
Vui mừng sửa mái tranh nghèo,
Lên non chọn giống hoa leo đem về.
Giờ hoa còn điểm nóc kia,
Bao năm rụng trắng nụ chia mối sầu.
Trồng hoa, cầu nguyện con đầu,
Mai như hương thoảng rừng sâu điệp trùng.
Như hoa nở đến vô chung,
Như hương dâng mãi vô cùng ngàn mây.
Bao nhiêu thơ mộng cảnh này,
Tụ lên tâm thức từ ngày thai mang.
Cho lòng con rộng muôn vàn,
Bao dung như đất chẳng màn gần xa.
Thế rồi vừa tiễn thu qua,
Là nàng nở nhụy khai hoa dễ dàng.
Bé trai như nụ nhung vàng,
Trên giường nệm cỏ cười ngoan tối ngày.
Ngọc vàng nào sánh được đây,
Mẹ cha vui sướng lòng đầy quí thuơng.
Nàng ru con ngủ nôi hương,
Chàng nghe chim hót thiên đường non tây.
Thời gian thấm thoát mây bay,
Trẻ kia khôn lớn như cây ven đồi.
Nghe con tập nói bồi hồi,
Như bông hoa nở giữa nơi sương mở.
Tưởng rằng mãi mãi mộng thơ,
Tưởng rằng xây mãi giấc mơ vách rừng.
Ai ngờ tang tốc bỗng dưng,
Nàng đi còn để mấy từng hoa rơi.
Chôn ai khóc chẳng nên lời,
Nước yên lặng suối, lá rời rã cây.
Nhớ nàng dằng dặc khôn khuây,
Đêm nghe chim gọi suối ngoài quặn đau.
Dối con rằng: ‘ dưới mộ sâu,
“ Mẹ đi thăm nội ít lâu lại về,
“ Bao giờ rụng chiếc sao khuya,
“ Mẹ con mở nắm mồ kia dậy cười.”
Những đêm trăng rực hoa tươi,
Trẻ ngồi đợi chiếc sao ngời chênh vênh.
Mà sao, sao vẫn vô tình,
Sao không rụng xuống cho mình hỡi sao!
Nghe con trách hỏi trời cao,
Người cha lòng lại như bào quặn đau.
Tiếng chim hót cũng đượm sầu,
Tàng cây lá rụng theo nhau u hoài.
Suối buồn dằng dặc mây trôi,
Giàn xưa hoa đã vàng tươi bao lần.
Nghe hương thoảng ngỡ người gần,
Nghe hoa lay tưởng dấu chân hồn về.
Đêm ngồi bên mộ buồn tê,
Phải chăng ôm mãi tấm bia sầu buồn.
Đời thì nay biển mai cồn,
Tấm thân ờ, đã hoàng hôn rã rời.
Hoa tàn hoa lại đơm tươi,
Rồi ra người lại gặp người thiên thu.
Còn gì ngoài cõi thâm u,
Còn gì ngoài cõi mịt mù thế nhân.
Thì nên tìm lẽ thường chân,
Bước ngoài khổ hải mê tân cõi này,
Thế là ông đốt lều mây,
Trồng bên nấm mộ một cây nguyệt đào.
Giắt con vượt mấy đèo cao,
Tìm nơi Phật ngự hỏi vào rừng mai.
Mỗi lần gió thoảng hoa bay,
Trắng neo mái cỏ trắng cài phên nan.
Thế tôn dưới cội hoa vàng,
Tay cầm thóc ném chim đang trở về.
Truyền từ bụi nọ cây kia,
Gọi nhau ăn thóc bên khe suối chiều.
Hàng hàng trầm mặc tỳ khiêu,
Dưới cây tĩnh tọa muôn chiều trầm tư.
Chuông nào ngân vọng không hư,
Dường nghe thoảng sạch ưu tư cõi sầu.
Cha con vội tới cuối đầu,
Nguyện xin theo đạo nhiệm mầu từ đây.
Phật cười cho toại ước ngay,
Học theo tăng chúng hầu thầy sớm hôm.
Lo việc hoa trái trầm hương,
Dần dà tâm trí mở đường trắng trong.
Nghiệp xưa đã nhẹ bụi hồng.
Cha con dần bước xuống dòng vô ưu.
Người cha thọ giới tỳ khưu,
Người con cũng giữ mười điều sa di.
Lần hồi ngày tháng qua đi,
Rừng phong thoảng đã mấy kỳ vàng đưa.
Thiếu niên chợt nhớ non xưa,
Nấm mồ hiu quạnh gió mưa giãi dầu.
Tìm cha bày tỏ nỗi sầu,
Đòi về thăm chốn núi sâu một lần.
Nghe con lại quặn lòng trần,
Người xưa giờ biết mộ phần ra sao.
Cuối thu hẳn tía bông đào,
Lưng non bè bạn ra vào họa trăng.
Bèn xin tạm biệt chúng tăng,
Giắt con về chốn nhện giăng cỏ dài.
Non kia vò võ chờ ai,
Suối xưa hoa vẫn buông cài dòng tơ.
Mồ xưa cỏ lấp sương mờ,
Cội đào mấy thủa đông chờ cánh rơi.
Nghe chim hót lạnh từng trời,
Nhớ người xưa lại bồi hồi lệ chan.
Dọn nền đất cũ cỏ lan,
Đẵn cây dựng tạm một gian che mình.
Sương chiều lạnh đã buông quanh,
Nhìn cha mệt nhọc không đành lòng con.
Vội ra mót sắn ngoài nương,
Nấu lên cùng mớ nấm hương mới tìm.
Mới cha sơi món ngọt mềm,
Còn mình cơm cháy khô đem vỡ lòng.
Ăn rồi ông nghĩ thong dong,
Chờ con ngủ, mới ra cùng người xưa.
Nàng nằm đây với gió mưa,
Nghe rừng trút lá vàng thu đã nhiều.
Thương cho nhung gấm mỹ miều,
Theo ta về chốn tiêu điều rừng sâu.
Đất khô nên sắn nên rau.
Lều tranh, áo vải, thương nhau cũng là.
Búp khoai, hoa mướp, nụ cà,
Chung vui tưởng đến tuổi già tóc sương.
Ngờ đâu sớm cách âm dương,
Bên rừng nắm đất nắm xương giãi dầu.
Ông đang suy nghĩ âu sầu,
Chợt xây xẩm mặt bụng đau lạ thường.
Gục ngay, cạnh nấm mộ nàng,
Trăng khuya trải ánh tơ vàng thướt tha.
Sáng ngày con tỉnh giấc hoa,
Gọi lên, nào thấy tiếng cha đâu nào.
Vội tìm ra mộ xem sao,
Than ôi! Xác lạnh lá đào phủ trên!
Giật mình chàng vội nâng lên,
Ôm cha than khóc, ruột điên gan nhầu.
Rồi đào huyệt rộng chôn sâu,
Tóc tang đời trẻ nhuộm sầu núi non.
Vách rừng hai nấm hoàng hôn,
Cây đào lại mỏi mòn tuôn lệ dài.
Nghĩ: đây vách núi lạc loài,
Chung quanh hoa cỏ cùng ai chia sầu.
Mình ta giờ biết nương đâu,
Mẹ cha hai nắm cỏ mầu vàng xanh.
Cúi đầu bái tạ anh linh,
Thấu cho con phải rứt tình ra đi.
Hôm sau về đến rừng kỳ,
Chạy vào bên đức từ bi, khóc ròng..
Niềm riêng cạn tỏ nỗi lòng,
Chút thân giữa cõi trần hồng bơ vơ.
Xin nương ân đức Phật thừa,
Nguyện theo trai giới vượt bờ sông mê.
Đem công đức ấy nương về.
Báo đền cha mẹ, hai về sinh thiên.
A-Nan hầu Phật bên thềm,
Nghĩ vì con trẻ gây phiền lụy cha.
Nếu không đem gợi chuyện nhà,
Thì đâu cớ sợ xảy ra thế này.
Khiến người cha bỏ nơi đây,
Về vùi thân giữa cỏ cây nội ngàn.
Phật hay ý nghĩ A-Nan,
Dạy rằng: “ tiền kiếp trái oan đã từng.
Đời xưa cũng ở ven rừng,
Chỗ nhà cạnh suối tưng bừng reo ca.
Trẻ này tiến kiếp là cha,
Lão tỳ khưu nọ trước là con ngoan.
Thường đi đẵn củi đốn than,
Kiếm rau hái trái cơ hàn một thân.
Sớm hôm mưa nắng tảo tần,
Nuôi cha bệnh hoạn muôn phần lo âu.
Một hôm len lỏi rừng sâu,
Hái nhầm nấm độc cùng nhau đem về.
Thấy cha đói mệt nằm kia,
Vội nấu canh nấm kịp thì đem dâng.
Nhìn người ngon miệng vui mừng,
Con đành húp cháo vài lưng gọi là.
Ai ngờ nấm độc phát ra,
Cơn đau phút chốc, đành qua một đời.
Con vô ý hại cha thôi,
Bây giờ nhân quả luân hồi gặp nhau.
Đổi dời bãi biển cồn dâu,
Quả nhân báo ứng trước sau chẳng dời.
Vẫn miền vách núi mù hơi,
Đời xưa, chốn ấy chính nơi mái nhà.
Kiếp này con đổi làm cha,
Cũng ăn cháo nấm như là ngày xưa.
Lưng non gửi lại nấm mồ,
Nhân nào quả đó bao giờ sai đâu.
Khác gì nước cuộn sông sâu,
Ngàn năm trôi chảy trước sau một đường.
Nếu không tu chuyển y nương,
Đổi thay nghiệp mệnh vô thường, thoát nơi.
Thì dù muôn kiếp muôn đời,
Trùng trùng hoa đốm không dời vọng tâm.
Lời ban dìu dịu thâm ân,
Rừng mai dường cũng nảy mầm kết bông.
Đồi xa vương vất mây hồng,
Chim về ca hát rừng đông họp bầy.
Lưng trời lãng đãng dòng mây,
Kết thành một chiếc cầu mây lững lờ.
Sương xanh như vạn hạt tơ,
Chơi vơi theo ngọn gió hờ hững bay.
Phật vào dưới mái cỏ may,
Áo hường như một giải mây ánh đào.

MỘT LÒNG TRỢ ĐẠO

Nhớ xưa vùng ngát hương cau,
Nơi dinh cơ bậc sang giầu vô song.
Là ngài Tu Đạt chính trung,
Phò vua giúp nước cường hùng một phương.
Ngài thường trải rộng lòng thương,
Giúp người cô độc vất vương bụi bờ.
Lại dành riêng cảnh nên thơ,
Cho ai đau ốm nương nhờ nghĩ ngơi.
Ông còn khuyến hóa nơi nơi,
Bớt phần xa xỉ giúp đời ấm no.
Nêu gương ông phát giống mùa,
Và thường cấp giống bán mua khắp thành.
Hết lòng săn sóc dân sinh,
Cứu người thương vật vang danh hiền tài.
Lòng ông như ngọc sáng ngời,
Tu nhân tích đức suốt đời làm gương.
Sinh con nối dõi tong đường,
Bốn chàng hiếu đễ kính thương cha già.
Đều nên thao lược tài ba,
Rõ ràng phong độ nếp nhà công khanh.
Bây giờ sông bắc đồi nam,
Lòng già đã quyết tìm đàn chìm kia.
Chẳng hay con đã từng nghe,
Tiếng chim nào mát như che lòng người?”
Nàng thưa: “ tăm cá chim trời,
Sớm vui đồng cỏ chiều dời non hoa.
Vị gì một tiếng thiết tha,
Tỉnh mê cũng ở lòng ta chẳng ngoài.
Cháu xin cụ chờ u hoài,
Dù cho tìm khắp trần ai thấy gì.
Nếu tìm chân tướng tham si.
Nếu tìm lý đạo từ bi giúp đời.
Còn hơn đuổi bóng chim trời.
Cưu mang ảo giác tuyệt vời tiếng ca.”
Lời nàng như tỉnh lòng già,
Nghe xong đã biết ngọc hoa rõ ràng.
Ngờ đâu giữa chốn sơn trang,
Tình cờ lại gặp kho tàng minh châu.
Lão vờ than: “ chốn nương dâu,
Đêm nay biết trúj nhờ đâu tạm thời?”
Nàng thưa: “ vậy cháu xin mời,
Nếu cụ chẳng nệ những nơi nghèo nàn”.
Bước chân thoăn thoát dẫn đàng,
Qua cồn dâu đẫm mây vàng chiều hôm.
Đưa về ven núi sơn thôn,
Vách mây lờ lững, lau cồn lô xô.
Chim thưa tiếng rụng mơ hồ,
Dẫn vào dưới mái cỏ bồ đơn sơ.
Cha nàng mái tóc như tơ,
Dưới hoa bầy giở ván cờ tiêu dao.
Đôi bên tương kính mừng chào,
Cũng người cốt cách thanh cao khác thường.
Hỏi ra, xưa ở phố phường.
Khinh đời lắm chuyện nhiễu nhương bỏ về.
An bần lạc đạo chốn quê,
Thong dong ngày tháng đuề huề gió trăng.
Ở đây thoảng đã mười năm,
Với nàng gái út Ngọc Hằng đó thôi.
Tháng ngày thanh thản yên vui,
Dạy con giữ lấy đức người hiền lương.
Ngọc Hằng đã nổi tiếng ngoan,
Hầu cha, săn sóc ruộng vườn sớm hôm
Càng nghe được rõ ngọn nguồn,
Khách càng thêm quí mến hơn nhiều phần.
Ởn thêm vài buổi làm thân,
Trước sau đẹp ý xa gần mới thưa.
Thấy nơi xứng hợp duyên tơ,
Lão ông nghe cũng mừng cho con mình.
Thế là khách trở lại kinh,
Tháng sau xe ngựa lình đình dẫn sang.
Lễ nghi sang trọng cưới nàng,
Giữa nơi hoa cỏ sơn trang hẹn hò.
Rước dâu về đến thành đô,
Hoa tung lối ngõ mơ hồ nhã ca.
Ngọc Hằng từ kiệu bước ra.
Tưởng chừng ở chốn cung nga lạc về.
Một đôi sánh ngọc hoa kề,
Hai người đi dưới ngõ lê trắng ngời.
Tóc huyền theo gió buông lơi,
Sợ hoa thẹn dáng, ngại trời e hương.
Thế rồi chấp cánh uyên ương,
Vườn xuân mở cõi thiên đường trăm hoa.
Từ thêm dâu quí về nhà,
Ông Tu Đạt lại càng là thi ân.
Mở kho lớn tặng chúng dân,
Tạ ơn trời đất ban phần cao sang.
Ngọc Hằng những lúc rảnh rang,
Thường dậy kẻ dưới khâu, đan, thêu thùa.
Một chiều, ông dạo vườn hoa,
Tiếng đâu ấm ngọt nghe qua lạnh mình,
Con dâu đang giảng lẽ kinh,
Lời như gột sạch vô minh cát lầm.
Ghé qua thấy cạnh đỉnh trầm,
Hằng đang dạy bảo hàng trăm thị tỳ.
Nào là cách diệt tham si,
Nào là bình đẳng từ bi lẽ mầu.
Nghe toàn nghĩa lý cao sâu,
Đạo này chẳng hiểu từ đâu truyền vào.
Thấy cha thấp thoáng song đào,
Nàng ra khép nép cuối chào lão thân.
Ông rằng: “ Cha đang phân vân,
Vì nghe thuyết giảng trăm phần lạ tai.
Chẳng hay con học nơi ai
Mà thông lý đạo tuyệt vời biết bao?”
Nàng thưa: “Đức Phật tối cao,
Bên thành La Duyệt như hào quang soi.
Hiện về giáo hóa trời ngườ,
Tình thương rộng mở thắm tươi muôn vàn.
Năm xưa cha con tìm sang,
Cho con theo đến dâng nhang đạo trường.
Thật là mầu nhiệm dị thường.
Tiếng ngài khai mở trăm đường trí bi.
Lời trong như suối lưu ly,
Phá tan tập kiến tham si cõi lòng.
Đưa về mối đạo trắng trong,
Như ao sen nở cánh bông thơm ngần.
Vua, quan cho đến tiện nhân,
Theo về tu học chẳng phân sang hèn.”
Ông rằng: “ Cha đã nghe tên,
Đức ngài trải rộng khắp miền gần xa.
Nhưng cha chưa có dịp qua,”
Nàng thưa: “ Nếu gặp Phật Đà nghe kinh,
Là đi tìm gặp chính mình,
Bước chân vượt cõi giả hình tù giam.
Dù cho vô lượng ngọc vàng,
Chẳng bằng chân bước qua đàng vọng mê.”
Lời con như gió thoảng về,
Lòng ông quyết đến nước kia cầu hiền.
Đêm nằm mơ thấy chư tiên,
Từ trên trời xuống quanh miền gieo hoa.
Dựng lên san sát muôn tòa,
Lầu vàng gác ngọc như là thiên cung.
Tàn hoa, phướn gầm trùng trùng,
Lại thêm quỉ dữ khắp vùng reo vui.
Mừng rằng pháp Phật diệu vời,
Khiến cho muôn loại thoát nơi ngục tù.
Từ đây nơi cõi Diêm Phù,
Rạng thêm trí huệ thiên thu sáng ngời.
Pháp vương mỗi ý mỗi lời,
Là hoa mười cõi tuyệt vời trổ bông.
Giật mình trời đã hừng đông,
Ra đi ngựa vượt mây hồng non co.
Hành trình hơn một tháng sau,
Tu Đạt đã đến rừng đào thành La.
Ông vào dưới mái nhà hoa,
Gió trầm hương lẫn chim ca diệu kỳ.
Chung quanh người khoác hoàng y,
Thanh cao ánh mắt, từ bi nụ cười.
Ngồi trên trõng trúc một người.
Uy nghi phúc tướng tuyệt vời thế gian.
Dường như cảm ánh từ quang,
Chim rừng cất tiếng cây ngàn trổ hoa.
Mắt ngài trìu mến thiết tha,
Lời như gió thoảng đua qua rừng trầm.
Lòng ông gội sạch mê lầm,
Dưới thềm thấm giọt từ âm tỉnh người.
Nghe xong, lễ Phật, thỉnh mời,
Đón sang Xá Vệ là nơi cõi ngoài.
Nguyện về thiết lập pháp đài,
Dựng nhà tịnh xá rước Thầy qua sau.
Thỉnh xong, từ tạ cúi đầu,
Lên yên, dục ngựa qua cầu mây xanh.
Núi xa như mở quách thành,
Cheo leo đường cũ tươi nhành sương un.
Về phương lởm chởm mây đùn,
Ngựa tung vó tuyết cũng vùn vụt qua.
Mùa sau đã tới quê nhà,
Cỏ cây hớn hở, trẻ già mừng vui.
Đức vua cũng ngự tới nơi,
Hỏi xem Phật có như lời xưa nay.
Hàn huyên tôi chúa bàn ngay,
Quyết lòng hóa chuyển cõi này từ bi.
Ông tìm đất nọ đất kia,
Làm Tịnh Xá đón Phật về hóa duyên.
Đã tìm khắp cả quanh miền,
Chẳng đâu là được như miền ước mong.
Sau cùng còn đất cửa đông,
Có dồi có suối đơm hồng trăm hoa.
Là vườn thái tử Kỳ Đà,
Làm sao chuốc được để mà hiến dâng.
Đất này thái tử ưng dùng,
Bao năm gìn giữ chẳng thèm nhượng ai
Quyết lòng, ông cứ sang chơi,
Hỏi mua vườn để dựng đài truyền hương.
Kỳ Đà thách; “ tôi sẽ nhường,
“ Cho ai đem trải kín vàng đất kia”.
Tưởng ông thất vọng trở về,
Ai ngờ sáng dậy bốn bề vàng tươi.
Mênh mang mấy dặm chói ngời,
Phủ trên vườn nọ như lời ước giao.
Kỳ Đà kinh ngạc biết bao,
Chẳng hay oai đức vị nào gớm ghê.
Khiến ngài Tu Đạt thôn kia,
Phát tâm dâng cúng, chẳng nề vong gia.
Giờ còn muôn gốc đào hoa,
Mình xin dâng nốt, vậy là xong xuôi.
Để chung công đức với người,
Dựng đàn, tìm được một nơi như lòng.
Tu Đạt hoan hỷ vô cùng,
Rồi đêm mơ thấy một vùng hồng soi.
Bao nhiêu thần thánh quanh người,
Đốt hương khen tặng bao lời ngợi ca.
Sáng sau phơi phới mây pha,
Hoa đâu rụng xuống quanh nhà như mưa.
Kẻ hầu, vào khẽ quì thưa:
Có người xa đến áo như mây hường…
Ông ra phòng khách vội vàng,
Thấy ngài Xá Lợi Phất đang ngồi chờ.
Phật cho đệ tử Phật qua,
Giúp ông trong việc dựng tòa trầm nhang
Tin bay đi khắp nẻo đàng,
Bấy giờ ngoại đạo xốn xang vào hùa.
Đến xin yết kiến nhà vua,
Xin ngăn Tu Đạt dựng chùa núi Đông.
Lại đòi tỷ thí thần thông,
Nếu Phật không thắng thì không được vào.
Dù cho rằng đạo thế nào,
Cũng xin đọ thử thấp cao mới rồi.
Chiều dân vua cũng thuận lời,
Định ngày tỷ thí cho mời đôi bên.
Ngoài thành truyền dựng đài lên,
Đến kỳ đại biểu hai bên đọ tài.
Hôm sau khai mở lễ đài,
Thành trong cho đến thôn ngoài kéo xem.
Ngoại đạo quyết lòng đua chen,
Phô trương thanh thế múa men đủ trò.
Thôi thì tiếng nhỏ tiếng to,
Áo quần lòe loẹt quanh lò hương bay.
Bỗng dưng thấy chiếc tàn mây,
Che ngài Lợi Phất dưới đài bước lên.
Đạo tràng bốn phía lặng yên,
Ngẩn trông oai đức trang nghiêm khác thường.
Nắng pha sắc áo mây hường,
Lưng trời thêm chiếc tàn hương lạ kỳ.
Hiền hòa, giải thoát dung nghi,
Hào quang theo bước chân đi tỏa ngời.
Khắp phường ngoại đạo rụng rời,
Lúc sau mới cử một người tài ba.
Thổi lên lớp lớp mù sa,
Tàn mây kia bỗng hóa ra mặt trời.
Tỏ soi khắp cả nơi nơi,
Mù sương tan loãng thành hơi biến dần,
Lạ thay định lực oai thần,
Lòng người như sạch bụi trần thênh thang.
Thuật tà đó mới bị tan,
Lại người niệm chú hóa tàng câu cao.
Mặt trời giờ hiện tàn đào,
Thân cây thành cán xuyên vào nghiêng che.
Hai lần pháp bị phá đi,
Thấy lo, ngoại đạo thầm thì bàn quanh.
Cử ra một gã áo xanh,
Khoa tay niệm chú phi hành cưỡi mây.
Tàn đào thành lưới lửa vây,
Tên kia nhẩy xuống mặt mày xám tro.
Lại người thổi trận gió to,
Lưới kia Lập tức hóa lò hương thơm.
Gió đưa trầm ngát mười phương,
Thuật tà bèn hóa thiên đường trên mây.
Như tuồng ngọc dát vàng xây,
Khiến cho đại chúng ngất ngây hướng nhìn.
Tự nhiên nơi mỗi con tim,
Tàn mây đã hóa muôn nghìn cõi tiên.
Khiến lòng tự tại an nhiên,
Mỗi người là một cõi miền thánh linh.
Bọn tà hô hoán âm binh,
Hiện ra địa ngục muôn hình khảo tra.
Thì trong tim mỗi người ta,
Hàng hàng Bồ Tát hiện ra cứu đời.
Địa ngục kia hóa cõi trời,
Vạc dầu lại hóa thành nơi tịnh trầm.
Tiếng than là giải thoát chuông,
Thần âm chuyển khắp mười phương tỉnh người.
Ngoại đạo im tiếng im lời,
Phóng ra mấy mũi dao ngời ánh quang.
Tự nhiên dao hóa sen vàng,
Búp hoa kết lại dâng làn hương bay.
Lưng trời giờ chiếc tàn mây,
Thành mưa trải khắp trong ngoài hân hoan.
Khiến cho hận dịu sầu tan,
Bấy giờ ngoại đạo qui hàng về theo.
Nắng mai rực rỡ y điều,
Thinh không vẳng tiếng hạc kêu tuyệt vời.
Cánh như mây nổi chơi vơi,
Mấy dòng bay lượn giữa trời cao xanh.
Xá Lợi ngồi thuyết đạo lành,
Khiến chim cũng tụ trên cành hòa ca.
Nhà vua truyền cử long xa,
Đón mời quốc khách về nhà cùng trai.
Lễ đường hoa kết trầm bay,
Cầu nghe chính pháp sâu dầy mênh mông.
Vây quanh vóc tía dung hồng,
Quần thần hoàng tọc đầy phòng uy nghi.
Xin theo ngũ giới tam qui,
Rồi vua ân xá, đền nghì đạo sư.
Lại truyền dựng chổ an cư,
Kỳ hoàn soi ánh chân như từ rầy.
Đạo tràng xanh biếc ngàn mây,
Lưng non suối nhỏ vơi đầy thần âm.
Nào là san sát lầu trầm,
Nào sân vân tập, nào đầm niệm hoa.
Trong khi coi dựng đạo tòa,
Một hôm Tu Đạt thấy lòa hào quang.
Hiện ra gác ngọc lầu vàng,
Trang nghiêm đủ vẻ cao sang diệu kỳ.
Vì ngài Xá Lợi đứng kề,
Đang dùng tuệ nhãn bốn bề chiếu soi.
Khiến cho ông thấy từng trời,
Hiện ra cảnh giới chơi vơi điện đài.
Lại nghe tiếng vẳng bên tai,
“ Phước người dâng cúng Như Lai một lòng.
Cung trời cũng lập vừa xong,
Chờ ngài thí chủ trắng trong từ giờ.”
Tu Đạt lặng ngắm ngẩn ngơ,
Bâng khuâng như một giấc mơ trải dài.
Hẳn đây tiên cảnh bồng lai,
Cửa niêm phiến ngọc, mây gài then hương.
Quanh quanh gò tía dặm hường,
Suối thu lẩn khúc, cầu sương nhịp mờ.
Thinh không hạc lượn vật vờ,
Như dòng thơ cổ trên tờ phấn tiên.
Gió đùa cỏ nội hoa triền,
Tưởng muôn tấm lụa thiên nhiên giãi mầu.
Sương xanh kết mấy nhịp cầu.
Tiếng chim là nước nhiệm mầu xuôi nhanh.
Vườn trầm bướm ngẩn ngơ quanh,
Hoa leo kết ghế bên thành hồ sương.
Núi quanh chỏm tía đỉnh hường,
Đường cheo leo cát kim cương nạm ngời.
Tu Đạt tỉnh giấc chơi vơi,
Nào đâu cảnh giới tuyệt vời vừa qua.
Lạ lùng mới hỏi nguyên do,
“ Xin thầy lân mẫn giảng cho việc này.
Rõ ràng lầu cuộn tầng mây,
Con vừa ngồi giữa hương vây hoa ngàn.
Hóa ra vẫn ở Kỳ Hoàn,
Bên thầy dưới gốc mai vàng gió lay,
Vẫn là nơi một thân nàh,
Là đâu hư thực, xin thấy dậy cho?”
Sư rằng: khắp cõi Diêm Phù,
Khác chi một giải sương mù ban mai.
Dù cho muôn sự muôn loài,
Cũng là vọng thức hiện bầy nghiệp riêng.
Chân tâm mầu nhiệm thiêng liêng,
Dung thông vũ trụ chẳng miền cách chia.
Nghiệp ông là cõi trời kia,
Ý là lầu các vừa kề phút giây.
Khẩu là hoa nở trầm mây,
Thân là cõi giới hiện bầy hào quang.
Tâm sinh vạn pháp mây vàng,
Thể như nước hiện vô ngàn sóng xô.
Một khi vượt huyễn mê đồ,
Thì trăng dưới đáy hồ lặng soi.
Hóa hình đến khắp nơi nơi,
Thần thông du hí cung trời gần xa.
Mười phương trong một sát na,
Ứng thân đi trải hương hoa cúng dường.
Hoặc làm mây diễn vô thường,
Hoặc làm mưa diễn đạo thường luân lưu.
Hoặc làm đất thảm hoa thêu,
Hoặc làm gió cuộn dập dìu chim ca.
Đều do tâm thể hóa ra,
Trang nghiêm Phật quốc như là một thân.
Đức ông vô lượng vô ngần,
Trợ đạo giải thoát, giúp dân vẹn lòng.
Khiến nên tâm thức sạch trong,
Cõi trời vừa nở một bông hoa thần.
Biến ra lầu các mây vần,
Cũng tùy thiện lực tinh cần hóa sinh.
Ông xưa từng đã quên mình,
Cõi trời đã tự dứt tình bao phen.
Nguyện vào trần thế đua chen,
Làm nhà thỉnh Phật đạo hiền trợ khai,
Vào ra nơi cõi đất này,
Sáu lần theo Phật dựng xây đạo trường.
Từ Tỳ Bà Thi pháp vương,
Đến Phật Ca Diếp chân thường như lai.
Cũng từ nơi cõi đất này,
Ông từng, dựng tháp xuyên mây cúng dàng.
Trải qua mấy kiếp trần hoàn,
Bây giờ lại dựng đạo tràng trí bi.
Còn như những kẻ tham si,
Chấp mê nghiệp cảnh khác chi kiến này.
Một đàn quanh quẩn nơi đây,
Đã qua vô lượng khói mây đổi dời.
Kiến này vẫn tụ một nơi,
Tan tan hợp hợp bao đời long đong.
Thôi thì mẹ mẹ con con,
Sống nhờ hoa cỏ trái non rụng rời.
Thương thay biết đến bao đời,
Mới đà thoát khỏi kiếp nơi côn trùng.
Kẻ mê trong cõi mịt mùng,
Bo bo ôm lấy nghiệp chung chẳng dời.
Đã may sinh ở cõi người,
Chẳng tu thiện nghiệp thoát nơi luân hồi.
Ngàn năm dễ được gặp thời,
Đức Phật thị hiện cứu đời lầm mê.
Đạo ngài phá ngục tù kia,
Trần gian mát cội bồ đề chở che.
Tu Đạt cung kính hầu nghe,
Lời thiền sư tỉnh giấc mê trường đời.
Thế rồi vừa một tháng trời,
Vườn kỳ dựng đủ năm mươi ngôi nhà.
Giữa nơi dị thảo kỳ hoa,
Lại riêng dựng một ngôi nhà gỗ thơm.
Làm chỗ ngự Thế Tôn,
Bên hồ sen gió dâng hương đêm ngày.
Thêm đài hồng thạch khắc mây,
Làm tòa thuyết pháp dưới cây bạch đào.
Giữa đài đắp bệ sen cao,
Dưới đài sư tử chầu vào bốn phương.
Hai bên cầu cuộn mây vương,
Bắc lên từ bốn đỉnh hương ngát trời.
Quanh đài lại đặt đôn ngồi,
Hình hoa sen nở, là nơi tọa thiền,
Đạo trường như cõi thần tiên,
Nào cầu vọng nguyệt, nào thuyền đạo thu.
Nào hồ, tha thướt liễu tơ,
Xanh nghiêng rũ xuống lầu thơ nguyệt đàm.
Lối hoa dẫn đến thiên đường,
Cổng vào dựng một tháp chuông đại hồng.
Tu Đạt trần thiết vừa xong,
Tâu vua, sai sứ qua sông thỉnh người.
Về khai chính pháp tột vời,
Trần gian dựng một cõi trời hiền lương.
Lệnh truyền án thiết hoa hương,
Nhà vua ngự đến biên cương trước ngày.
Chờ đoàn thỉnh rước Như Lai,
Ải quan mở đón dầu hài từ bi.
Thôn trang cho đến kinh kỳ,
Tự nhiên gió thoảng hương gì thanh cao.
Khiến muôn dặm lý cồn đào,
Bỗng dưng, hoa nở đón chào Phật tăng.
Suối khe rộn rã thủy cầm,
Hòa ca như một dòng âm diệu kỳ,
Mây đùn một góc trời kia,
Dựng lên như thể tấm bia đủ màu.
Đã trông tàn kiệu chân châu,
Đoàn người rước Phật qua cầu tới ngay.
Thế rồi yến tiệc trăm ngày,
Thả tù, bố thí, trồng cây cúng dường.
Ngày Phật khai mở đạo trường,
Quần thần hoàng tộc quốc vương hầu quì
Người vây quanh chật vườn Kỳ,
Thôi thì hoa trải, thôi thì chim bay.
Nghìn năm dường có hội này,
Sông dâng khói sóng, rừng lay gió ngàn.
Từng không mây kết nên tàn,
Như hoa muôn sắc tỏa làn diệu hương.
Cổng rừng vọng tiếng thần chuông,
Tàn mây nhẹ trải mưa hường khắp nơi.
Khiến như giải thoát lòng người,
Kẻ câm giờ chợt mở lời reo ca.
Người mù chợt mở mắt ra,
Kẻ điếc chợt lắng tiếng hoa rụng rời.
Bệnh nan y khắp gầm trời,
Hứng mưa khỏi hẳn, như người chiêm bao.
Phật lại phóng ánh bạch hào,
Như bình minh chiếu soi vaà mười phương.
Hiện ra vô lượng thiên đường,
Toàn là mã não kim cương ngọc hồng.
Lưu ly là núi là sông,
Hào quang hết tụ muôn bông hoa ngời.
Gió đưa là tiếng nhạc rơi,
Cỏ lay: sóng gợn, mây dời: tuyết sa.
Quần tiên vóc liễu dung hoa,
Trong vườn cẩm ngọc chói lòa hào quang.
Thướt tha tay múa miệng xoang,
Gẫy đàn cưỡi hạc từng hàng nhởn nhơ.
Hoặc lưng non ngả cuộc cờ,
Bâng khuâng bãi thúy, hững hờ dòng mây,
Lại hào quang Phật hiện bày,
Cung trời Đâu Suất hiện cây hoa thần.
Cánh hoa rụng thành phù vân,
Mây tan thành suốil tươi ngần ánh trăng.
Suối reo thành nhạc thường hằng,
Nhạc rơi hóa hiện muôn tầng lầu mây.
Toàn là ngọc khắc vàng xây,
Có chim muôn sắc có cây trăm màu.
Có tháp cẩm ngọc minh châu,
Có xe mây kết có cầu sương un.
Đó là diệu dụng thần thông,
Của đức Di Lặc giữa bông hoa thần.
Ngài đang cầm sách cẩm vân,
Chữ ghi là những dấu chân hạc trời.
Phật dậy “ Bồ Tát độ đời,
Sẽ truyền muôn đạo trong lời vô thanh.
Hưng chính pháp độ chúng sanh,
Mười phương hòa hợp dưới cành vô ưu.
Hóa thân xuống trước dắt dìu,
Khiến cho nhân loại xuôi chiều về theo.
Xa lìa ngã chấp mạn kiêu.
Trần gian là cõi diễm kiều thi ca.
Di Lạc sau mới hiện ra,
Tự nhiên muôn cõi là nhà trí bi.
Chẳng tranh mà được mới kỳ,
Chẳng tu mà sạch tham si bụi hồng”.
Dậy rồi ngừng phóng thần thông,
Quanh Phật đại chúng dứt lòng mạn nghi.
Quay về diệu pháp nương y,
Nguyện theo ngũ giới tam qui trọn đời.
Vườn Kỳ phấp phời hoa rơi,
Chim đâu ríu rít tụng lời từ âm.
Gió xa thoảng ngát rừng trầm,
Lời vàng khiến trổ một đầm liên hoa.
Mây về tám cõi trời xa,
Tiếng chuông cửa núi ngân nga bổng trầm.
Âm thần vọng giữa thuyền lâm.
Giọt trăng giải thoát giữa tâm nhiệm mầu.

VÌ ĐỨC QUÊN THÂN

Thời xưa tịnh xá Ni Câu,
Lưng non sương tỏa nhịp cầu treo mây.
Suối cao tung giải tơ bay,
Sớm mai hồng đượm, cuối ngày vàng pha.
Đầu non tùng bách reo ca,
Sườn mây biếc tụ quanh nhà cỏ thơm.
Chim kêu lau nội hoa cồn,
Tiếng tan như giục suối dồn âm thanh.
Sông xa uốn giải lụa xanh,
Nước ùn khói sóng bên thành Tỳ La.
Nhà sàn Phật ngự dưới hoa;
Có đường đá xếp như là thang mây.
Trông ra một cõi non tây,
Lô nhô, chầu phục như bầy voi xanh.
Sáng nay mây đỏ bên thành,
Cửa ngoài hoa rụng giăng mành tơ sa.
A-Nan cung kính hầu trà,
Tỳ kheo vân tập quanh nhà, chắp tay.
Thưa rằng: “ con nghe lâu nay,
Chúng dân truyền tụng đó đây vang dồn.
Tán dương công đức Thế Tôn.
Bỏ ngai vàng, mở pháp môn diệu vời.
Độ cho khắp cả trời người,
Chân tâm là đuốc sáng ngời trí bi.
Phá tan nhị tướng chia lìa,
Khiến người khởi ngộ tan mê bàng hoàng.
Nơi đâu thiết dựng đạo tràng,
Là nơi chiếu rọi hào quang Phật từ.
Tánh không là lẽ như như.
Tám đường chân chính, vượt hư huyễn đời.
Tan mê, bi trí tuyệt vời,
Xa lìa tứ tướng, thoát nơi ngục tù.
Là nhật nguyệt giữa không hư,
Thuận duyên, tự tại, nhất như đạo thường.
Trời, người nhuần giải thoát hương.
Nhân dân như nước bốn phương tìm về.
Tựa nương bóng mát bồ đề,
Tín tâm, thập thiện, xa lìa trần lao.
Lại thêm đệ tử đức cao,
Ông Kiều Trần nọ, duyên nào qui y.
Con đầu của đức Từ Bi,
Như chim hồng hạc, như kỳ diệu hoa.
Giờ là sao chiếu ta bà,
Khiến nên khắp cõi trần sa tỏ ngời.
Người thêm ý, kẻ thêm lời,
Truyền khen trí huệ tuyệt vời thánh vương”.
Phật ngồi sau đỉnh trầm hương,
Cánh hoa theo gió thơm vương áo người.
Vách non khói đá ùn hơi.
Mai như tuyết rụng khắp nơi đạo tràng.
Chúng tăng trầm mặt hàng hàng,
Sương bay trên giải y vàng cuộn tơ.
Quanh nhà gỗ dựng đơn sơ,
Cà sa thấp thoáng như bờ hoa thu.
A-Nan hội ý lại thưa:
“ Quả con nghe thấy như vừa tin trao.
Rằng từ lúc ánh bạch hào,
Phá tan tà đạo, độ bao nhiêu loài.
Kiều Trần Như đó năm ngài,
Cớ sao sớm tỉnh ngộ nơi đạo hiền.
Việc này hẳn có tiền duyên,
Dễ đâu một sớm dứt liền mê si”.
Phật cười: “ chân tánh trí bi,
Xét trong muôn loại khác gì nhau đâu.
Thiền oai, giới định nhiệm mầu,
Tỏa soi như tạng minh châu diệu vời.
Nhân duyên hình bóng chẳng dời,
Thân ta bao kiếp vào nơi trần hoàn.
Độ Kiều Trần thoát mê tham
Cõi đời mây nổi hợp tan mấy lần.
Nguyên xưa có một hiền nhân,
Nhà giầu: ruộng đất xa gần thiếu chi.
Cứu người muôn cách thiết thi,
Mở trường bố thí, sá gì lạ quen.
Giữa đời điên đảo chê khen,
Nguyện ông như một đóa sen đại từ.
Mong sao người chẳng dối hư,
Chẳng còn chia cách chân như nhiệm mầu.
Chẳng còn cơ cực thảm sầu,
Thế nên làng xã khác đâu tình nhà
Kể chi những kẻ xấu xa,
Tham lam gian dối để mà lợi thân.
Dù ông biết rõ mười phần,
Nhưng lòng chẳng chấp ngã nhân hẹp hòi.
Đã không nhờ cậy thì thôi,
Đã nhờ, thưng đấu đầy vơi cũng đồng.
Giúp người chẳng kể tốn công,
Chỉ mong thỏa được nguyện lòng xưa nay.
Thế nên vàng bạc kho đầy,
Rộng lòng bố thí cũng ngày tiêu tan.
Lại cho hết cả ruộng vườn,
Bà con hờn trách xóm làng hờn chê.
Lòng ông chẳng giận kẻ mê,
Tín tâm gieo hạt bồ đề làm duyên.
Có năm người ở xa miền,
Vốn tay tự phú bạc tiền chắt chiu.
Nghe danh ông bố thí nhiều,
Bàn nhau bày kế đặt điều thử chơi.
Để xem có thiệt hơn đời,
Dám liều danh dự cứu người được chăng.
Hay là cũng bọn dối giăng,
Vẽ trò lấy lệ mong rằng được khen.
Mua danh bằng ít của riêng,
Vờ nhân nghĩa để xóm giềng nể nang.
Bỏ ra vài nén bạc vàng,
Mà cầu mai hậu vẻ vang tiếng nhà.
Cũng tuồng đổi chác lại qua,
Chắc gì thương xót người ta thật lòng.
Thói đời ý đục lời trong,
Phải tìm ra lẽ mới xong việc này.
Cùng nhau to nhỏ mưu bày,
Giả làm nghèo khó, năm người đến ông.
Rằng: “ chúng tôi phải qua sông,
Vì có người bạn khốn cùng đã lâu.
Lại thân mạng nặng ốm đau,
Con thơ, vợ dại cơ cầu lắm thay.
Lần hồi trong mấy năm nay,
Tiền ăn tiền thuốc phải vay mãi người
Nợ nần ngày một sinh sôi,
Bây giờ hết chổ vay rồi biết sao!
Cả nhà đói rách lao đao,
Mà người chủ nợ cũ nào có thương.
Đang đe dọa đủ trăm đường,
Nếu không lo trả số vàng đã vay.
Thì thân kia phải tù đày,
Và con gái phải sang ngay làm hầu.
Chúng tôi tuy xót thương nhau,
Nhưng cùng nghèo khó lấy đâu giúp người.
Nên đành tìm đến xin ngài,
Qua sông khất hộ đôi lời họa may.
Chủ kia nể mặt nới tay,
Thì bạn tôi khỏi tù đày xót xa.
Và con gái được ở nhà,
Tảo tần giúp đỡ mẹ cha lúc này…”
Ông nghe liền thuận ý ngay,
Nghĩ không còn cửa trả thay cho người.
Thì dù phải đến một nơi,
Hạ mình năn nỉ đôi lời giúp cho.
Gia đình kia thoát nguy cơ,
Cũng là việc tốt ngần ngừ chi đâu.
Theo người ông bước đi mau,
Đến bờ sông sẵn thuyền câu buộc chờ
Vừa ra trời bỗng gió to,
Thuyền con dễ bị nước xô sóng dồi.
Năm người không biết lội bơi,
Trong cơn hoảng hốt xin lời tố nhau.
Khiến ông chợt hiểu nông sâu,
Nhận ra năm kẻ nhà giàu quen tên.
Đã từng nổi tiếng đảo điên,
Đã phen trào trở bạc tiền hại ông.
Bây giờ đặt chuyện qua sông,
Bầy trò khất nợ thử lòng ta chăng.
Ngờ đâu sóng gió bỗng dưng,
Năm anh sợ chết đổ cùng tội nhau.
Sóng càng nổi gió càng mau,
Thuyền như là cuộn trước sau mịt mờ,
Đang khi cá đợi sông chờ,
Tử sinh kẻ tóc khe tơ theo liền.
Ông bèn quả quyết đứng lên,
Nói: “ tôi cố gắng đẩy thuyền qua sông.
May ra thoát nạn bảo giông,
Tới bờ kia để các ông trở về.
Nói rồi nhảy xuống sông kia,
Vừa bơi vừa đầy thuyền kề bờ cao.
Năm người vội vã nhẩy vào,
Còn ông yếu sức sóng trào cuốn đi.
Trông theo nào thấy dấu chi,
Năm người run rẩy vội quì bên sông.
Hối vì đen dạ xấu lòng,
Bầy điều thử thách những mong bới người.
Vì không tin ở trên đời,
Có ai mà chịu cứu người thiệt thân.
Bây giờ mới rõ giả chân,
Lòng như được ánh đuốc thần rạng soi.
Bao nhiêu tà kiến tan rời,
Thiện tâm tựa cánh sen tươi hé dần.
Thiết tha quì khấn thánh nhân:
“ Chúng con xưa để tham sân đưa mình.
“Ơn thầy chỉ lối quang minh,
“ Cho cùng hối cải chí tình từ đây,
“ Nương theo đức lớn của thầy
“ Trên đường cứu độ nguyện nay một lòng”.
“ Kiếp sau xin được theo cùng,
Bước thầy như thể cánh hồng trí bi.”
Nguyện rồi năm phú hộ kia,
Tiếc gì của cải ngại gì khó khăn.
Tiến tu bao kiếp hồng trần,
Hợp tan như nắm phù vân đổi dời.
Bây giờ lại hợp năm người,
Y nương chính đạo như lời nguyền xưa.
Cửa ngoài ho rụng như mưa,
Tiếng chim nào hót trên bờ cây cao.
Gió đưa hương thoảng rừng đào,
Gió đem hoa trắng đậu vào lưa thưa.
Phật trải tọa cụ bằng tơ,
Nằm nghe chim hót mấy bờ hoa lay.
Đỉnh non như chiếc tàn mây,
Núi xanh xanh biếc như xây vòng thành.
Dưới hoa trầm mặc kinh hành,
Phật xuôi tay ngủ như nhành ngọc lan.

CÁ BA ĐẦU

Một sáng sương mù vừa tan,
Bên sông thấp thoáng y vàng như hoa.
Giáo đoàn đức Phật vừa qua,
Bước trầm lẫn tiếng chim ca nội ngoài.
Áo tơ pha giải mây dài,
Như tia nắng mới vương đài sen hương.
Thế Tôn là ánh triệu dương,
Sau ngài là một đông phương chói lòa.
Đón ngài mây trắng cồn hoa,
Mừng ngài núi cũng nhạt nhòa sương lam.
Đồng xa gợn gợn lúa vàng,
Trời cao lãng đãng đôi hàng cỏ bay.
Bãi sông đang họp dân chài,
Chênh vênh đôi cánh buồm dài tió nghiêng.
Lưới tung lấp lánh mây viền,
Như sen lá úp xuống miền nước xuôi.
Bỗng nhiên xúm lại bao người,
Hò reo vang một khoảng trời mênh mông.
Thì ra trong lưới gai hồng,
Có con cá nọ vẫy vùng thoát thân.
Loại nào to lớn bội phần,
Khiến thêm cả bọn thương nhân phụ vào.
Bến sông hò hét ồn ào,
Gần trăm người kéo dễ nào đã xong.
Quẫy mình cá nọ ra công,
Quyết tung cho rách lưới hồng phóng ra.
Nhưng vừa trông thấy Phật Đà,
Lạ thay! Cá bỗng hiền hòa nằm im.
Ngài dừng chân đạt tay lên,
Thì cá lại ứa đôi viền lệ trong.
Bấy giờ lần lượt đám đông,
Mới dám đến sát để trông cho tường.
Thấy đều choáng mắt ghê hồn,
Cá đâu có cá dị thường sợ thay!
Ba đầu sáu mắt rõ đây,
Đầu rắn, đầu hổ, giữa này đầu heo.
Bề dài hàng chục bơi chèo,
Ngang như thuyền lớn đương neo cạnh bờ.
Thực đây, nào phải chuyện ngờ,
Cá đang vùng vẫy sao giờ lại yên.
Hẳn rằng Phật có nhân duyên,
Khiến nên mắt cá ứa viền lệ kia.
Hiều lòng dân chúng hiếu kỳ,
Thế Tôn mới kể cho nghe việc nay.
Nguyên xưa, nhiều kiếp trước đây,
Phật Ca Diếp xuống cõi này độ sinh.
Khiến cho thế giới thanh bình,
Nhân gian chung hưởng đạo lành yên vui.
Truyền lưa chính pháp trụ đời,
Xa lìa giả tướng nơi nơi thuận hòa.
Đến thời mạt pháp hiện ra,
Lắm phường ngoại đạo gian tà chấp mê.
Trăm phương phá hoại Bồ Đề,
Thành kia có gã Tỳ Lê là người.
Thông minh, hoạt bát thạo đời,
Hào hoa lắm vẻ tuyệt vời khéo khôn.
Thấy mình tuổi trẻ tài hơn.
Họ hàng, chúng bạn suy tôn phục tong.
Chàng ta kiêu mạn đầy lòng,
Quyền uy nào cũng dành mong về mình.
Tham, sân hằng đắp cao nhanh,
Đức thì quên để mỏng manh xuống dần.
Nghe xong quyền quí chúng dân,
Kính tăng, trọng Phật, sinh phần ghét ghen.
Kết bè, lập hội đua chen,
Muốn thay ngôi vị đức tin Phật Đà.
Nhưng liền khi đó nhận ra,
Mình với chính pháp sao mà đọ ngang!
Bèn mưu giả làm sa môn,
Vào chùa nghiền ngẫm tìm đường phá chơi.
Bán buôn cửa Phật kiếm lời,
Gây bè kéo cánh tranh nơi tục quyền.
Vênh vang ăn chốc ngồi trên,
Giỏi tài lừa bịp kiếm tiền gieo neo.
Thân tham như hổ như heo,
Ý lời như rắn lượn lèo trăm phương.
Gây bao nhiêu chuyện nhiễu nhương,
Để gieo tiếng xấu cho hàng tăng ni.
Cốt làm chính pháp tiêu đi,
Nhưng rồi thân hắn cũng thì tàn tro.
Nhân sâu quả báo càng to,
Đọa đầy muôn kiếp bắt cho đền bồi.
Hết giam địa ngục bao đời,
Lại làm ngạ quỉ lại thời ngựa trâu.
Bây giờ là cá ba đầu,
Và nhờ xưa niệm ít câu nhân lành.
Gặp Phật liền được siêu sanh,
Sẽ vào cửa nọ tu hành chính chân.
Nghe xong người khắp gian tân,
Xin qui chính đạo tin cần giới trai.
Cá kia bỗng thời chắp vây,
Gật đầu lạy Phật, thác ngay tức thì.
Phật trao ngũ giới, tam qui,
Cho có nhờ sức từ bi nhiệm mầu.
Tay ngài như những nhịp cầu,
Đưa người qua biển ưu sầu tham mê,
Ngón tay như những thành đê,
Ngăn sông tham dục xuôi về một phương.
Ngón chân như những ngả đường,
Dẫn người về một tình thương nhiệm mầu.
Dấu ngài bước tới nơi đâu,
Là tâm người sáng lầu lầu gương trong.
Là trời bát ngát mênh mông,
Non xanh, đào lý dặm hồng tươi hoa.
Là chim cõi đất hòa ca,
Là vàng biển lúa muôn nhà an vui.
Nắng lên sương bạc tan rời,
Phật cùng đệ tử ngàn người lại đi.
Giáo đoàn sang Tỳ Xá Ly,
Dọc đường lác đác hoa gì dâng hương.
Nghỉ trưa trong một vườn hồng,
Lưng đồi lấp lánh muôn bông nắng ngời.
A-Nan nghĩ đến những người,
Sáng nay đánh cá, do nơi nhân gì?
Mà vừa gặp đấng từ bi,
Đã cùng chúng bạn qui y Phật từ.
Nghĩ rồi quì trước đạo sư:
“ Cầu xin Phật dạy lẽ như thế nào?”
Thế tôn bèn giảng trước sau:
“ Quả nhân tương tạo theo nhau chẳng dời.
“ Cũng thời mạt pháp đó thôi,
“ Có tiền thân của bọn người sông kia
Tuy là trong đạo Trí Bi
Mà vô minh để Tỳ Lê khiến dùng
Theo bừa chẳng xét sâu nông
Không phân biệt nổi đục trong chính tà
Thế nên lầm lẫn mãi ra
Giúp người phá đạo vậy mà không hay!
Trải bao nước mắt đọa đày
Nợ xưa đòi đến kiếp này mới xong
Lưới chài một chuyến trên sông
Lừa kia lầm nọ hết vòng quả nhân
Nên bậc tu phải chính chân
Phải coi phước huệ làm thân chẳng dời.
Cho dù phương tiện cứu đời,
Cũng do Bi Trí làm nơi chủ trì.
Khiến người thoát khỏi tham si,
Cốt vì công ích chẳng vì lợi riêng.
Tứ Niệm Xứ phải quán siêng,
Khiến cho tâm thoát khỏi xiềng lợi danh
Tứ Nhiếp lợi lạc chúng sanh,
Ngũ Minh là việc tỉnh thành làm phương.
Khế cơ, khế lý tỏ tường,
Khởi duyên nhân quả: lẽ thường thế gian.
Trí, Bi là cõi Niết Bàn,
Vạn pháp không tánh như làn sương bay.
Xa lìa tứ tướng mê say,
Mười phương thế giới hiện bày chân tâm.
Ly Tứ Cú, bạt mê lầm,
Nguyện như sen nở trong đầm hôi tanh.
Theo ai cũng phải rõ rành,
Giới là nhân tạo quả lành mai sau.
Pháp là ánh sáng minh châu,
Tâm là cõi Phật nhiệm mầu tự thân.
Tinh cần lìa vọng hiển chân,
Trần gian là chốn hiền nhân độ trì.
Nội chướng là tham, sân , si
Phá tan tam độc lo gì ngoại ma.
An vui là pháp Lục Hòa,
Bát chính là pháp vượt qua khổ nàn.
Ý là cửa đến thiên đàng,
Khẩu là của cải tư lương đăng trình.
Thân là phương tiện tối linh,
Dục là nguồn cội vô minh phải trừ.
Ngăn người sa đọa dối hư.
Hiển dương chính pháp nhất như sâu mầu.
Khiến đời giải thoát tiêu sầu.
Ba nghiệp là khối minh châu tỏ ngời.
Ngộ mê cũng tự lòng ngưòi,
Trần duyên như nắm xương dời ngõ hoa.
Nghiệp nhân ta tự buộc ta,
Buộc vào hay lại cởi ra cũng mình.
Mười hai mắt xích vô minh
Suốt từ vô thủy chưa đình vòng quay.
Thân như nắm bụi vàng bay,
Sáu đường mù mịt khói mây ra vào.
Vọng tâm như sóng biển trào,
Như cuồng phong nổi lao đao thế tình.
Thương thay mười loại chúng sinh,
Trả vay mãi chốn vô minh ngục hồng.
Cưu mang rắn rết trong lòng,
Lênh đênh chiếc bọt đầu sông lạc loài.
Xa lìa chính pháp Như Lai,
Lăn thân giữa chốn trần ai kiếm tìm.
Giả danh như bóng mây chìm,
Như in lòng suối bóng chim giang hồ.
Giam trong hai cực hữu vô,
Chấp mê giả tướng mê đồ quẩn quanh.
Chẳng lo tinh tấn tu hành,
Nghìn năm uổng phí duyên lành hội nay.
Dễ đâu vào được thân này,
Dễ đâu gặp được bạn, thầy chính chân.
Theo đường vượt thoát ngã nhân,
Trần gian vỗ cánh chim thần vút cao.”
Phật nằm trên võng tơ đào,
Thoảng xa ngọn gió đưa vào làn hương.
Bềnh bồng mây trắng du phương,
Tiếng chim rụng dưới rừng hương xạc xào.
Âm ba như gọi mây cao,
Như mạch nước mát suối nào đỉnh non.
Đôi hàng cây dựng chon von,
Bóng mây lan mát một con đường dài.
Cánh châu chấu biếc bên ngoài,
Nhẩy vào tay Phật quơ vài sợi râu.
Ven rừng vắng cội hoa ngâu,
Cũng vừa chin hạt bông đầu thoảng hương.

CHÚA TIÊN CÚNG PHẬT

Một chiều lãng đãng mù sương,
Vườn Kỳ thấp thoáng sao vương nội đào.
Chim về xào xạc non cao,
Tiếng chim tịch mặc lan vào thâm u.
Âm âm nhè nhẹ trầm từ,
Ngọn triều dâng ngập thái hư tròn đầy.
Thấm trong nội cỏ ngàn mây,
Như trăng hiện tướng giục bầy nước cao.
Chuông tươi dường hạt nắng đào,
Mơ hồ như tiếng hạc nao nao về.
Dư ba ngan ngát sơn khê,
Vi vu như cội bồ đề gió qua.
Tơ chuông quyện thẫm giang hà,
Phất phơ lay giữa yên ba ngút vời.
Âm du cùng ngọn lá rơi,
Bâng khuâng người lại hỏi người tịch nhiên.
Dòng chuông lắng sạch ưu phiền,
Thức người tỉnh giấc sầu miên mịt mờ.
Cánh đào rung nhẹ phiếm tơ,
Cánh chuồn theo gió cũng hờ hững bay.
Lầu trầm phảng phất hương ngây,
Hàng hàng tăng chúng dưới cây tọa thiền.
Bỗng đâu một cỗ kiệu tiên,
Từ thinh không hạ xuống triền non mai.
Kết bằng mây báu chiếu ngời,
Tỏa ra ánh sáng lưng trời hồng xanh.
Một bầy hạc múa vây quanh,
Đẹp như hoa trắng muôn nhành rụng rơi.
Bước ra yểu điệu một người,
Thướt tha vóc ngọc, tuyệt vời tiên dung.
Mắt huyền tóc cuộn tơ nhung,
Tay đưa lạc nguyệt, bước trùng trầm sa.
Xách theo một giỏ hoàng hoa,
Mỗi bông tơ đọng tỏa ra ánh hồng.
Nàng vào thiền thất hoa xông,
Cúng dường Phật tổ lẵng bông cõi trời.
Lại ra dâng khắp người người,
Đóa hoa mầu nhiệm tỏa ngời vàng châu.
Giờ đây ánh sáng muôn màu
Chiếu lên cung kết cung lầu nhạc ca.
Hoặc thành bảo tháp muôn tòa,
Núi nghiêng nét thúy, suối sa lụa vàng.
Mây thành lọng tỏa hào quang,
Lửng lơ như thể một tàng hoa lay.
Bấy giờ nàng mới chấp tay,
Vào nhà lễ Phật tỏ bầy nguyên cơ.
Rằng: ‘ con ở cõi Tịnh Cư,
Nghe Phật khai mở chân như châu này.
Nên liền vượt khỏi trời mây,
Một lòng cung kính xuống đây cúng dường.
Thành tâm xin đức pháp vương,
Ngày mai con thiết trai đường rừng bên?”
Thế tôn cho được như nguyền,
Vui mừng nàng trở gót tiên ra về.
Sớm mai rừng phía bên kia,
Bỗng dưng cung điện, uy nghi khôn cùng,
Cột mây, nền lát gấm nhung,
Sương năm sắc lạ pha chung làm tường.
Cửa vòng trăng hướng bốn phương,
Mỗi khu là một cảnh vườn nguy nga.
Hướng đông có suối đào sa,
Có cầu thạch bích bên tòa tháp son.
Có đường uốn khúc quanh non.
Tàng thông biếc phủ lối nòn vi vu.
Vườn tây có một mẫu hồ,
Thả hoa vàng tím, lô nhô sóng dời,
Quanh bờ liễu tục tơ lơi,
Khói hồ tự đám mây trời bốc cao.
Kết thành một tán lọng đào,
Thả mưa hồng nhạc rơi vào hồ xanh.
Có đường cẩm thạch viền quan,
Có mây ngũ sắc xây thành chân châu.
Cửa nam dựng một tòa lầu,
Sông quanh nước réo trên cầu mây giăng.
Sáng ngời như tuyết như băng,
Chập chùng lầu các bao tầng thủy tinh.
Bóng in mặt sóng lung linh,
Có bầy hồng hạc soi mình đáy sâu.
Gió sông thổi cuộn mái lầu,
Vi vu mành ngọc minh châu tỏa ngời.
Gió thành nhã nhạc chơi vơi,
Tiếng nghe dường cũng đầy vơi sóng tình.
Tự nhiên bầy hạc cất mình,
Múa theo vi diệu âm thinh dịu dàng.
Khi giăng như giải mây vàgn,
Khi rơi như thể đôi hàng hoa dưng.
Cửa Bắc hóa hiện hoa khu rừng,
Đào san sát nở như vừng chiêu dương.
Gió đưa như đám bụi hường,
Thành mưa rơi xuống đồi nương xanh rì.
Bãi xa biêng biếc cỏ chi,
Cánh hoa phơi phới khác gì bướm bay.
Có nhà cỏ lợp sương vây,
Đàn nai ngơ ngác dưới cây hồng đào.
Biển ru sóng vỗ rì rào,
Chân trời đôi cánh buồm nào chênh vênh.
Một bầy ngựa cuộn phù vân,
Lông pha tuyết ủ quay quần lưng non.
Đường vaò gỗ thếp vàng son,
Phần e tiên cảnh, phần còn bang khuâng.
Nàng ra cung kính đón mừng,
Lối đi hoa rắc trong rừng đào tơ.
Bước vào như lạc cõi thơ,
Kìa tháp mây đỏ, nọ bờ hồ xanh.
Xuống cầu bán nguyệt rửa chân,
Nghe chim vàng hót vang rần bờ dương.
Bè hoa tím ngát dị thường,
Khiến hồ như thể nước hương chiên đàn.
Mời về nền lót kim cang,
Ghế quỳnh vân ngọc, bàn vàng, kim âu.
Bát mã não, đĩa minh châu,
Đũa ngà thất bảo, người hầu gấm hoa.
Tóc huyền tơ mối trầm pha,
Khăn tay đẫm nguyệt dâng trà hạ hương.
Gót hài nhẹ lướt như vương,
Đều còn đang tuổi e sương rủ đào.
Thỉnh Phật ngự trên đài cao,
Bấy giờ thí chủ thanh tao mở lời:
“ Chúng con ở tận chân trời,
Qua đây thành kính dâng người trái hoa.
Nhờ ơn tăng bảo Phật Đà,
Độ cho tiên cõi nhà nhà phúc tăng,
Mai sau đọa lạc cõi trần,
Căn lành còn một đôi phần đó thôi.
Thỉnh xin Tăng, Phật hai ngôi,
Chứng minh cho, phước chúng tôi vô vàn.”
Bấy giờ hiền giả A-Nan,
Thể theo tôn ý đạo tràng, quì thaư:
“ Nhân gì nghiệp đức gieo xưa,
Vị này hưởng phước vô bờ cõi tiên.
Thần thông biến hóa diệu huyền,
Xuống đây dưng cả một miền thiên cung?”
Phật nghe xong, chiếu thần thông,
Khắp nơi pháp hội đều cùng rõ hay.
Thấy tiền thân vị tiên này,
Hiện ra một cảnh núi mây trùng trùng.
Lung non có gã đàn ông,
Ngồi trong hiên cỏ vui cùng chim hoa.
Phật Tỳ Bà Thi đi qua,
Gã hay, vội đón vào nhà nghỉ chân.
Bới khoai vùi lửa ân cần,
Cắt cỏ trải nệm muôn phần kính yêu.
Lại ra dọn suối bắc kiều,
Mời Phật xuống tắm ra điều mừng vui.
Ngài truyền mười giới cho rồi,
Hôm sau Phật lại qua đồi vân du.
Đến đây cảnh tan như mơ,
Đạo trường ai cũng ngẩn ngơ tâm thần.
Phật dạy: “ người nọ tu chuyên,
Đến khi nghiệp tận thức hiền hóa singh.
Làm chủ cõi Tịnh Cư Thiên,
Chim muông hoa cỏ bạn hiền gã xưa.
Nhờ ơn chú nguyện Phật thừa,
Cũng theo sinh hóa bây giờ là đây.
Xưa anh mến suối yêu mây,
Kiếp nay phước báo cảnh này hiện ra.
Dung nhan dáng vẻ chúa hoa,
Ngự nơi ngọc kết vàng sa tỏ ngời,
Trải bao nhiêu kiếp nhiêu đời,
Đã dâng nước tắm khắp nơi đạo trường.
Từng hầu bảy vị pháp vương,
Bây giờ lại hóa nước hương vườn này.
Dâng lên đại chúng rửa tay,
Cho đến hiền kiếp châu nay lại vào.
Cúng dường ngàn vị Phật sau,
Ra đời chuyển đạo nhiệm mầu trần ai.
Sau người đắc đạo Như Lai,
Hiệu Tịnh Thân, đức sâu dầu kể chi.
Độ người vô lượng thần uy,
Trong ao công đức tư nghì được sao.
Nước thơm tỉnh giấc mộng đào,
Như chim thần vút cánh cao ngàn trùng.”
Nghe xong tiên chúa rất mừng,
Khiến muôn cảnh sắc tưng bừng cùng vui,
Non đông nghi ngút ùn hơi,
Suối tuôn vi vút nhạc trời lâng lâng.
Hồ Tây phơi phới mưa hồng,
Liễu đơm hoa ngát bềnh bồng tóc tơ.
Chim nào buông tiếng ngẩn ngơ,
Tan trên hồ thẳm như tờ lụa xanh.
Lầu nam hạc múa trên cành,
Tiếng kêu ríu rít sông nhanh cuộn dòng.
Cánh như muôn chiếc quạt hồng,
Mành châu gió lọt tơ đồng vi vu.
Bắc thành đào cuộn mấy bờ,
Hoa tung cánh trắng hững hờ gió bay.
Cánh rơi xuống khắp vùng này,
Như bông tuyết rụng từng cây ngạt ngào.
Chúa tiên khép nép lạy chào,
Tự dưng cung điện lẫn vào sương tan.
Trông ra bốn phía Kỳ Hoàn,
Mây năm sắc tía từng làn bay cao.
Tưởng chừng như giấc chiêm bao,
Ôi! hồ nước biếc rừng đào còn đâu.
Tiếng chuông vang giữa non sâu,
Rung ngân như bắc giải cầu từ âm.
Đài cao biêng biếc hương trầm,
Đỉnh non chim gọi âm thầm mây qua.
Rừng đào thấp thoáng cà sa.
Gió thơm phảnh phất cành hoa đầu mùa.


Thiên tán ca

PHÁP ÂM

Lời vàng dậy đỉnh non xưa,
Ngàn năm truyền đến bây giờ còn tươi.
Còn vang vọng trái tim người,
Tạo nên sức sống nơi nơi từ hòa.
Như chuông thần gợn dư ba,
Lay cơn mưa trải ta bà xanh xao.
Như xuân hương dục bông đào,
Càng dầy sương tuyết càng cao nguyện thề.
Như ngàn mạch suối vỗ về,
Trăm cây đơm trái, ngàn huê trổ mầu.
Tướng như mây quyện non sâu,
Tánh như trăng hiện bên cầu chơi vơi.
Luồn trong nhịp võng ơi hời,
Đạo nuôi con lớn giữa hơi nồng nàn.
Ẩn trong ánh mắt dịu dàng,
Đạo đưa người đến vinh quang đại đồng.
Thắm vào hoa cỏ non sông,
Mở ra cùng với vừng hồng triêu dương.
Lời vàng đưa khắp mười phương,
Khơi thêm trí sáng lòng thương mọi loài.


PHÁP ẢNH

Thiên nhiên quanh bước chân ngài,
Đã từng kết ngón tay dài chỉ trăng.
Đời đời kế tục truyền đăng,
Góp từ quanh bến sông Hằng gieo đi.
Giờ còn bát ngát xanh rì,
Nơi lòng kinh luận từ bi nhiệm mầu.
Bao nhiêu ý nghĩ cao sâu,
Kết nên như một con cầu qua sông.
Nào là non tím đồi hồng,
Nào khe mây lặn, nào đồng trổ hoa
Nào sông bọt sóng la đà,
Ánh trăng cổ lũy, canh gà thôn sương.
Bao nhiêu dấu tích tang thương,
Còn phơi phới ánh chân thường tịch nhiên.
Đọng thành chủng tự nhiệm huyền,
Luân lưu gieo xuống khắp miền thế gian.
Ý hiền xưa vẫn còn vang,
Cỏ hoa xưa vẫn ươm vàng như xưa.
Hạt lành bao kiếp truyền thừa
Xuân nay lại trổ trang thơ Kinh Hiền.


KIẾN PHÁP

Thấy chi trong cõi lụy phiền,
Long lanh biển lệ dưới viền trăng không.
Nổi nênh như huyễn trần hồng,
Mấy ai tự tại trong vòng nhị phân.
Còn như lấy huyễn làm nhân,
Càng tìm càng vạt gót chân lạc nguồn.
Rã rời trong cuộc tang thương,
Quên đi chân tánh lạc thường do ta.
Luân hồi sáu cửa vào ra,
Gió mây rốt lại tan hòa gió mây.
Góp thu huyễn ảnh càng dầy,
Héo khô giữa những vòng dây điệp trùng.
Giờ đàn so lại năm cung,
Đưa nhau ra khỏi những cung buồn phiền.
Lòng thương là cõi thiên tiên,
Trí ngời là sức Rồng thiêng bổng vời.
Cõi trần dựng tấn kịch chơi,
Hết tinh tiến diễu, lại rời rã buông.
Hơn nhau chi một vai tuồng,
Hòa hài giữa chốn hý trường sắc danh.


THÍNH PHÁP

Nghe gì trong cuộc đua tranh,
Nấc thang như huyễn mãi dành nhau lên.
Thôi thì hơn kém dưới trên.
Mãi đem giả tướng chụp lên cõi lòng.
Thế nên mười cõi mênh mông,
Thu vào nhốt kín trong lồng phù vân.
Kết toàn hư ảo làm thân,
Tạo nơi y cứ xoay vần đảo điên.
Gian ngoan buộc oán giăng phiền,
Cũng do tâm bệnh đau rên thành lời.
Ý gieo lại gặt lấy đời,
Nhân nhân quả quả khôn dời trả vay.
Bao nhiêu Bồ Tát xưa nay.
Cũng vì nghe thấy đọa đày trần gian.
Phát tâm độ kẻ mê tham,
Đưa người ra khỏi nẻo đàng vọng mê.
Triển khai tự tánh Bồ Đề,
Nguyện vào địa ngục chẳng hề gian nguy.
Nhìn người chỉ thấy trí bi
Cứu đời chỉ lấy vô vi làm đầu.


DIỆU PHÁP

Như hương thơm tự rừng sâu,
Kể gì ai biết ai cầu mới dâng.
Bước chân tự tại lâng lâng,
Vào ra như thể một vầng mây bay.
Xá nào Nam, Bắc, Đông, Tây,
Như mưa nhuần thắm cỏ cây trên rừng.
Hóa trong sinh hóa tưng bừng.
Vừa chung muôn loại, vừa từng loài riêng.
Quên mình gieo rắc thiện duyên,
Trăm năm theo trọn lời nguyền thanh cao.
Tùy nơi hóa hiện thân vào,
Lập nên phương tiện khác nào thắng xe.
Qua sông rồi cũng lìa bè,
Chỉ còn bóng mát chở che nhân hoàn.
Lay người tỉnh giấc mê tham,
Dẫn đời thoát ách lầm than bất bình.
Chẳng còn nô lệ giả hình,
Khiến cho muôn loại hồi sinh đại đồng.
Trăm đường hóa độ trần hồng,
Cũng về một biển mênh mông đại từ.


PHÁP TU

Muốn vào dòng sống nhất như,
Dốc lòng theo đấng đạo sư cõi này.
Phải tôn giới luật làm thầy,
Soi theo chánh đạo tìm ngay, lánh tà.
Phá nội chướng, dẹp ngoại ma,
Tạo nên giềng mối hiền hòa thiện duyên.
Nếu như bủa oán giăng phiền,
Là còn mắc giữa xích xiềng vô minh.
Chuyên trì giới cấm sát sinh,
Lại đem lòng đến sinh linh mọi loài.
Là tình thương mở tuyệt vời,
Tâm thân là cả cõi trời cao xanh.
Truyền lưu hạt giống đẹp lành.
Hiền hòa giữa chốn chấp tranh hận thù.
Chẳng nề thấm thoát xuân thu,
Tấm thân thường lạc cho dù biển dâu.
Hòa trong cõi sống nhiệm mầu,
Là cây đuốc giữa đêm sâu vô cùng.
Đưa người vào một lòng chung,
Cứu người ra khỏi những khung khổ nàn.


PHÁP TÁNH

Bước lên trí huệ siêu phàm,
Cũng là đường xuất thế gian mê mờ.
Chẳng còn đứng giữa đôi bờ,
Bâng khuâng trầm nguyệt, vật vờ phù vân.
Một lòng ly huyễn lìa chân,
Phá muôn thành quách phù trần chiêm bao.
Ung dung trong ánh bạch hào,
Mười phương ba cõi ra vào như chơi.
Dù trong mỗi ý mỗi lời,
Cũng là hạt giống tột vời trí bi.
Phá tan cội gốc mê si,
Chẳng còn hư ngụy chia lìa chân tâm.
Nhập vào giác tánh cao thâm.
Như sen giữa cõi ao đầm dâng hương,
Chí ngời như trụ kim cương,
Dẫn đưa sáu loại lên đường vinh quang.
Chẳng còn địa ngục thiên đàng.
Bên trong tâm cõi mênh mang tròn đầy.
Ngại gì vạn pháp khói mây.
Trần gian mừng cuộc xum vầy hồi sinh.


PHÁP TẠNG

Sáng nay trời đất khai kinh,
Mỗi dòng là ánh bình minh mật hồng.
Mỗi trang là núi là sông,
Mỗi câu mỗi nghĩa đơm bông hoa vàng.
Như hữu hạn gặp mênh mang,
Như mênh mang kết nẻo đàng vượt cao.
Trên tờ mầu nhiệm trăng sao,
Tin xuân đã dục mai đào hồi sinh.
Bao nhiêu giả tướng giả hình,
Nghìn năm chợt tỉnh chuyển mình reo ca.


PHÁP HIỆU

Cánh hồng xưa lại về qua,
Dừng đây giữa cõi ta bà bâng khuâng
Cất cao tiếng hót chào mừng,
Đóa hoa linh thoại trong rừng hương đưa.
Tiếng rơi tan xuống thành mưa,
Mỗi dòng là một pháp thừa trinh nguyên.
Hạt lành dục hóa hoa thiêng,
Từ lâu giữ kín lời nguyền dâng hương.
Hòa trong khúc hát chân thường,
Cỏ cây tỉnh thức bên đường lắng nghe.


PHÁP HỶ

Có con rùa nhỏ ngoài khe,
Từ lâu đợi suối trở về nằm đây.
Ẩn mình dưới chiếc mai dầy,
Ngó bờ rêu lục tưởng ngày xa xưa.
Trở mình nghe lạnh tiếng mưa,
Ôi! Dòng pháp kệ đợi chờ từ lâu.
Ôi! Cơn pháp vũ nhiệm mầu,
Hôm nay trỗi khúc kinh cầu lâng lâng.
Bên bờ hoa thoáng hương dâng,
Rùa soi đáy nước uống tầng mây trôi.


PHÁP LẠC

Có cây thông cổ trên đồi,
Bấy nay ngậm tiếng reo cười tịch nhiên.
Chút màu xanh ngắt thu thiên,
Giữ hoài, trong cõi ưu phiền dâng cao.
Ngày đêm than vãn xạc xào,
Thương ai chim giấc chiêm bao nặng nề.
Sớm nay thông ngó mây về,
Non xa xõa mái tóc thề chơi vơi.
Cành thông vươn dậy ngó trời,
Tự nhiên bật tiếng cả cười hoan ca.


CHUYỂN PHÁP

Sách hiền ẩn một bông hoa
Giam thân từ thủa chữ Là đóng đanh.
Hoa khô héo giữa quách thành,
Của vàng thế nọ của xanh thế này.
Quanh hoa lớp lớp trùng vây,
Càng hoen hương khói càng đày đọa hoa.
Hôm nay gió nhạt mưa nhòa,
Khiến trang hình tướng dần dà dị không.
Hai ngàn năm lại trổ hồng,
Cành hoa tươi lại trên đồng Việt Nam.
Từ nghe chim lảnh tiếng vàng.
Gọi hồn xưa cũ mênh mang tràn về.
Sắc, danh, nọ hoặc này mê,
Lại bừng chuyển hóa với quê hương này.
Với muôn hoa sắc xum vầy,
Với cung nhã tụng với bầy chim xinh.
Với mầu nhiệm lá Hiền Kinh,
Tụng lên cho thế giới bình một tâm.
Cho Đông Phương ngát quê trầm.
Cho thời gian mãi trổ đầm sen tươi.

HẾT


0 Comments:

Post a Comment

<< Home