Tuesday, February 22, 2005

kinh hiền ii

HẠNH NGUYỆN

Nhớ xưa khi đấng pháp vương,
Ở Kỳ Xà Quật núi sương ngút trời.
Gặp phen thời tiết đổi dời,
Phật vừa thọ bịnh, cho mời vị lang.
Thầy ngụ trong cúc Mai Trang,
Bên dòng sông nhỏ bên hàng liễu dương.
Vợ chồng nổi tiếng y vương,
Cứu người tật bệnh tai ương khắp miền.
Thầy hòa bát thuốc gia truyền,
Ba mươi hai lượng dâng lên trước mùng.
Thưa rằng: “ Nội lực vô cùng,
Nên con hòa quá lượng dùng cho mau.
Thế Tôn chú nguyện đôi câu,
Chúc cho thầy chứng đạo mầu tự tâm.
Vị lương y dời Thiền Lâm,
Tay nương gậy trúc qua rừng mai hoa.
Ngựa ông vừa ruổi tới nhà,
Thấy người của phái Bạt Đa chờ mời.
Lại đi coi mạch cho người,
Qua vùng miếu cũ đến nơi Đề Bà.
Thấy cùng chứng bệnh Phật Đà,
Thầy cân bốn lượng thuốc hòa đem dâng.
Thưa: “ Nơi khói núi mù sương,
Hay sinh lắm bệnh khác thường xưa nay.
Cách chừng đôi buổi trước đây,
Thế Tôn cũng mắc bệnh này như ông.
Ba mươi hai lượng thuốc dùng,
Hôm sau bình phục như thường có sao”.
Đề Bà Bạt Đa tự hào.
( so hai sức khỏe ta nào kém chi.
Mà cân lượng thuốc ít đi,
Hay là lão dụng mưu gì bất lương!)
Chờ thầy quất ngựa lên đường,
Cứ theo số lượng Phật dùng truyền pha.
Uống xong liền ngã lăn ra,
Miệng sùi bọt trắng, một nhà xôn xao.
Phật ngồi trên đỉnh non cao,
Quán từ bi biến thân vào mênh mang.
Biết Đề Bà sắp nguy nàn,
Thần thông hiện cánh tay sang xoa đầu.
Bỗng nhiên mây nổi muôn màu,
Hiện năm ngón Phật như cầu kim cương.
Đề Bà nằm thiếp trên giường,
Tự dưng ngồi dậy như thường chẳng sao.
Vây quanh đệ tử xôn xao,
Rằng: Phật vừa phóng bạch hào chở che.
Đề Bà nghe nổi di mê,
Vu: “ Phật khiến bỏ độc kia thuốc người.
Nhưng sao qua khỏi mắt trời,
Nên thiên sứ xuống phù đời chính chân”.
Lừa người hòng tạo lòng sân,
Gây thù tạo hận muôn phần hiểm nham.
Tin đưa đến ngài A-Nan,
Nhân khi hầu Phật dưới hàng thông reo.
Mới đem thuật rõ mọi điều,
Phật cười: ân oán đã nhiều xưa nay.
Ngừng lời, nghiêng xuống bàn tay,
Hứng con bướm trắng vờn bay đậu vào.
Rung rung như cánh hoa đào,
Giữa lòng tay Phật hồng hào luyến thương.
Ngài tiếp: “ trong cõi vô thường,
Từ bi hỷ xả là đường chính chân.
Quyết lòng vượt thoát ngã, nhân,
Chấp chi vọng tướng phù trần đảo điên.
Cũng từ kiếp trước nhân duyên,
Hại ta đâu phải một lần này thôi.
Nhớ xưa trong kiếp luân hồi,
Châu Diêm Phù có một đời vua kia.
Hung tàn hiếu sát kể chi,
Gian tham tích nghiệp, sân si ám lòng.
Bỗng nhiên xuất hiện một người,
Thưa rằng: các bạn tìm nơi ẩn mình.
Mang theo của cải gia đình,
Việc này xin để mặc tình tôi lo.
Nói rồi chào biệt mọi nhà.
Đeo cung tên, gã bỏ ra ngoài rừng.
Kể chi ác thú độc trùng,
Vượt đèo băng suối vô cùng gian nan.
Tìm cho được thú lông vàng,
Giống như trong giấc mơ màng nhà vua.
Bệnh trầm kha đã mấy đông,
Một đêm mơ thấy thú lông vàng.
Chung quanh tỏa chiếu hào quang,
Chữa cho vua khỏi nguy nan ngặt nghèo.
Tỉnh ra, bệnh cũng khỏi theo,
Nhớ lông thú lạ, trăm chiều ước ao.
Mấy ngày sau giữa đại trào,
Họp phường săn bắn cho vào dưới sân
Truyền: “ về sắm sửa cung tên,
Săn cho con thú như trên tả bầy.
Hẹn già trong một tháng trời,
Nếu không săn được ba đời tru di”.
Trở về một bọn sầu bi, ư
Chỉ còn tháng nữa đến kỳ đầu rơi.
Thú đâu có thú lạ đời,
Người đâu lại có lòng người oái ăm.
Một đêm họ hết phường săn,
Tìm mưu tính kế cho bằng thoát thôi.
Bỗng nhiên xuất hiện một người
Thưa rằng các bạn tìm nơi ẩn mình
Mang theo của cải gia đình,
Việc này xin để mặc tình tôi lo.
Nói rồi chào biệt mọi nhà,
Đeo cung tên gã bỏ ra ngoài rừng.
Kể chi ác thú độc trùng,
Vượt đèo băng suối vô cùng gian nan.
Tìm cho được thú lông vàng
Giống như trong giấc mơ màng nhà vua.
Tấm thân dãi nắng dầm mưa,
Tử sinh kẻ tóc đường tơ mấy lần.
Một hôm gã nọ dừng chân,
Giữa vùng sa mạc châu thân rã rời.
Phần thì nắng bỏng da người,
Phần thêm đói khát khôn dời bước đi.
Than rằng: “ ta chẳng tiếc chi,
“ Chỉ phiền chết chẳng cứu gì được ai.
“ Uổng bao ngày tháng dạc dài,
“ Tấm lòng đem xuống tuyền đài sao tan”.
Thiếp vào lòng cát mê man,
Bâng khuâng hồn điệp mang mang đất trời.
Vẳng đâu tiếng suối xa vời,
Dần nghe sức đã phục hồi như xưa.
Tỉnh trông một tín mười ngờ,
Biết đâu âm cõi huyễn mơ nào chừng.
Giữa hang nở trắng lan rừng,
Có hồ nước biếc mấy từng mây in.
Cửa ngoài tím ngắt hoa sim,
Vào ra ríu rít bầy chim tiểu hoàng.
Còn bâng khuâng nỗi lòng chàng,
Thì đâu con thú lông vàng hiện ra.
Rằng: “ Tôi tên gọi Cử Đà,
“Ứng thân đi khắp ta bà nơi nơi,
“ Cũng vì biển lệ chưa vơi,
“Nên chi nguyện ở cõi đời khổ đau.
“ Trưa qua cảm được lòng nhau,
“ Cũng là cạn khổ vơi sầu chúng sinh.
“Đón về đây để hiến mình,
“ Xả than chuyển nghiệp vô mimh sâu dầy”.
Nói rồi tự đứng phanh thây,
Lột da trao đến trước người thợ săn.
Rằng: “ vô lượng kiếp hồng trần,
Tử sinh như áo bao lần đổi thay.
“ Quẩn quanh tháng tháng ngày ngày,
Dệt thêm hư vọng cho đầy tham si.
“ Trước sau cũng một lần đi,
Cái thân huyễn hợp giúp gì được ai.
“ Bây giờ mừng được gặp ngài,
Nhờ đem lông đến thức người si mê.
“ Tôi nguyện công đức hướng về,
Chúng sinh đắc đạo bồ đề Như Lai”.
Cử Đà vừa nguyện dứt lời,
Sáu lần chuyển đất nghiêng trời mê tân.
Mới hay Bồ Tát thí thân,
Cây tươi dâng trái hoa ngần dâng hương.
Chư thiên hiện xuống cúng dường,
Hóa thành mây báu mười phương chiếu ngời.
Thợ săn xiết đỗi rụng rời,
Tỉnh ra đã thấy bên người cỗ da.
Đâu còn mây ủ non hoa,
Nhìn lên hiện rõ mấy tòa thành cung.
Gối quì vái vọng hư không,
Chúng sinh nguyện độ một lòng không hai.
Gã vào trước điện dâng ngay;
Nhìn da con thú bao ngày thầm mong.
Nhà vua hả dạ vui lòng,
Truyền đem vàng ngọc thưởng công tiễu trừ.
Gã thợ săn quyết chối từ,
Chỉ xin vua thuận cho như nguyện lòng.
Một là vỡ núi khai sông,
Hai là tháo cũi sổ lồng ân tha.
Ba là gác chuyện can qua,
Bốn là mở đạo hiếu hòa hiếu sinh.
Dựng xây nước mạnh dân binh,
Gia ân là đức, giảm hình là uy.
Dưới thềm từ tạ ra đi,
Bỏ vào núi ẩn tu trì sớm trưa.
Đó là duyên cớ xa xưa,
Nhà vua thủa nọ bây giờ về đâu.
Là Đề Bà tội sâu dầy,
Tu bao nhiêu kiếp còn đầy tham sân.
Nghiệp lực cứ mãi chuyển vần,
Sáu đường hư ngụy bao lần nổi trôi.
Một khi xả nghiệp vọng rồi,
Niết Bàn cũng ở luân hồi đâu xa.
Ngộ mê cũng một lòng ta,
Vọng duyên hoa đốm vẫn là chân không.
Bè kia muốn vượt bến hồng,
Nương chèo Bi, Trí, giữ lòng chẳng hai.
Cử Đà kiếp trước tự tay,
Lột da bố thí thức người tham mê.
Kiếp này chứng đạo Bồ Đề,
Mười phương pháp giới đi về thênh thang.
Dạy xong Phật đắp y vàng,
Chim đâu cất cánh một hàng lên cao.
Chờn vờn đôi bướm bạch đào,
Đậu trên áo Phật khác nào hoa rơi.
Pháp thiêng khiến tỉnh lòng người,
Chừng như hòa vọng trong lời suối reo.
Dưới non có vị tỳ kheo,
Du phương quẩy gói ráng chiều trên vai

ĐỨC VUA VÀ CON VOI

Nhớ xưa ngày đức Như Lai,
Bước vân du tơi vườn mai trổ hồng.
Có hồ sen búp nước trong,
Đáy in xanh thẳm hàng thông vươn mình.
Đôi gian nhà đất mái tranh,
Bên cầu tre uốn qua ghềnh suối thơ.
Tin lành mới được nghe qua,
Quốc Vương Xá Vệ liền ra đạo trường.
Vừa khi đệ tử trong vùng,
Rủ nhau lớp lớp tới mừng Như Lai.
Một vườn hoa trải trầm bay,
Đài sen tỏa biếc, tán mây pha hồng.
Người người vui mối vui chung,
Chờ nghe chánh pháp, nguyện lòng tuyết băng.
A Nan khi đó bạch rằng:
“ Chúng sinh mừng gặp đạo hằng mở khai.
Kính thành xin đức Như Lai,
Dạy cho hay kiếp trước Ngài duyên chi.
Phát nguyền độ kẻ tham si,
Phá vô minh tỏ Bồ Đề tự tâm”.
Trong vườn hoa cỏ lặng im,
Cành cao thoảng rụng tiếng chim cuối mùa.
Thế Tôn dạy: “ cõi Diêm Phù,
Cách đây vô lượng xuân thu đã nhiều.
Có vua trí tuệ cao siêu,
Quang Minh đế hiệu bao nhiêu đức dầy.
Bốn phương thịnh trị nhờ tay,
Lòng từ thấm khắp cỏ cây thù trùng.
Một hôm vua nước láng giềng,
Dâng con bạch tượng trắng ngần tuyết lê.
Vua truyền giao cho nhà kia,
Chuyên nghề quản tượng đem về dạy nuôi.
Thu đông ngày đổi tháng dời,
Voi kia tròn một năm trời vườn riêng.
Đã quen theo đúng lệnh trên,
Quản tượng viết sớ dâng lên triều đường.
Voi thần đẹp ý quân vương,
Ngài truyền dẫn đến đấu trường diễn coi.
Sớm mai vừa dựng mặt trời,
Cửa đông xe ngựa nơi nơi bốn bề.
Đến xem bạch tượng lạ kỳ,
Như điềm chính đạo hiện về nhân gian.
Kiệu son giữa bốn lọng vàng,
Trống thôi vó ngựa loa vang thét đường
Oai nghi đủ vẻ triều cương,
Đức vua ngự tới đấu trường sáng nay.
Bành voi nhung gấm bọc dầy,
Để Ngài thử một buổi này dạo chơi.
Khi voi được dắt tới nơi,
Trước đài quì xuống như mời vua lên.
Tiếng hoan hô dội bốn bên,
Khen mừng bạch tượng oai nghiêm khác thường.
Chợt voi thấy cuối đấu trường
Có voi xám nọ, chạnh thương mẹ già.
Bao ngày cách biệt rừng xa,
Nghĩ rồi bạch tượng vượt ra ngoài vòng.
Quan quân vội rẽ đám đông,
Ngựa tung bụi đỏ hãi hùng rượt theo.
Nhà vua lâm thế hiểm nghèo,
Trên voi phách lạc hồn xiêu sững sờ.
Mà voi kia vẫn trơ trơ.
Một niềm dõi hướng rừng xưa băng mình.
Phía sau quân tướng triều đình,
Lo tìm cách giữ an lành quốc vương.
Làm sao cứu được vẹn toàn,
Khi voi vượt suối băng ngàn như bay.
Mặc cho quản tượng luôn tay,
Nện búa xuống gáy đau trầy, sứt da.
Đến khi một tướng tài ba,
Ngựa đeo bên tượng kêu vua vững lòng.
Rồi giang tay đón mình rồng,
Vua lao thân xuống giữa lòng tôi trung.
Võ quan xiết nỗi vui mừng,
Cứu được minh chúa thoát vòng nguy nan.
Nhưng vua lòng giận muôn vàn.
Nhìn theo bạch tượng không buồn nói chi.
Quan quân tiếp tục tới kề,
Một đoàn hộ giá thẳng về hoàng cung.
Còn voi nọ thoát về rừng,
Đem theo quản tượng trên lưng phóng dài.
Ngang đường có một thân cây,
Quản tượng vội níu lên ngay thoát mình.
Vượt rừng trở lại đế kinh,
Hôm sau vừa kịp bình minh buổi chầu.
Một thân quì dưới thân đào,
Đình thần, nội thị ai nào đoái trông.
Chỉ mong trên chin bệ rồng,
Lượng cao trông xuống mở lòng thứ tha.
Nhưng rồi sương sớm chiều tà,
Ba ngày không thấy vua ra thiết triều.
Nghĩ thân mình đã tội nhiều,
Thôi đành tự xử dám kêu xin nào.
Cắt tay để lấy máu đào,
Viết sớ tạ tội tìm trao cận thần.
Nhờ dâng lên đấng minh quân,
Rồi về, giải lụa hủy thân trong ngày.
Nghe tin, vua mới đưa tay,
Cầm trang sớ nọ xem lời tâu van.
Rằng thần tội lỗi vô vàn,
Hủy thân để tạ đền vàng mới xong.
Ân vua xin giữ trong lòng,
Dù bao nhiêu kiếp trần hồng đâu phai.
Vì thần bạc đức non tài,
Khiến voi chỉ khuất bề ngoài mà thôi.
Nên thừa cơ lúc diễn coi,
Băng về rừng cũ tìm nơi ẩn mình.
Nhưng vua là đấng cao minh,
Hẳn sau vua sẽ về cung hầu ngài.
Như xưa các bậc hiền tài,
Được bao ác thú các loài qui theo.
Thân, tâm thuần phục đôi chiều,
Thiện căn hóa độ là điều dài lâu.
Phận tôi dưới bệ khấu đầu,
Kiếp này gây tội thân sau nguyện đền.
Trăm nghìn lạy trước điện tiền,
Trước giờ vĩnh biệt cầu trên thứ lòng”.
Máu đào một lá coi xong,
Nhà vua nghĩ lại vô cùng xót xa.
Chuyện buồn cũng bởi vì ta,
Quá theo lòng giận mà ra nỗi này.
Truyền đem mực thắm tờ mây,
Sắc ban truy thưởng nghĩa người tôi trung
Ba ngày cửa đóng hoàng cung,
Hiền vương suy nghĩ mong lung nhiều bề.
Phật xưa khai ngộ chuyển mê,
Làm sao trùng thú tự về nương theo.
Còn ta đủ sự nuông chiều,
Cỏ tươi, nước mát chuồng điều sướng thân.
Mà không khuất được voi rừng.
Đức người hồ dễ có chừng ấy thôi.
Lòng sầu mãi nghĩ khôn nguôi,
Chợt đêm mộng thấy một người tới thăm.
Ung dung bước tỏa hào quang,
Đó đây man mác sương vàng gió hương.
Trao cho vua tập kim cương,
“ Rằng đây cửa đạo chân thường Như Lai.
Từ bi trí huệ cao dầy,
Đó là Phật tánh xưa nay tỏ tường.
Thuyền lan sáu cánh qua sông,
Tịnh, ô thì cũng một lòng khởi duyên”.
Tỉnh ra vua sạch ưu phiền,
Phát tâm sám hối khởi thuyền thanh cao,
Nguyện đem công đức hướng vào,
Cõi trần mở oán giải sầu chúng sinh
Đoạn trừ nguồn cội vô minh,
Mở khai chính đạo yên bình muôn phương.
Trần gian hóa hiện thiên đường,
Tràn đầy trí huệ tình thương diệu vời.
Đức hiền rờ rỡ mặt trời,
Khiến cho cây cỏ muôn loài nở vui.
Quốc vương thệ nguyện dứt lời,
Suối thần hòa điệu hoa tươi nở đầy.
Nhạc vàng thoảng gió đâu đây,
Trên không chợt hiện vừng mây tuyệt vời.
Giữa mây chư vị thần trời,
Khen vua nguyện lớn cứu người tham mê.
Mai sau ngộ nhập Bồ Đè,
Đạo trường thanh tịnh bốn bề hóa duyên.
Mở khai muôn tạng kinh hiền,
Kết thành hoa báu hương thiền diệu âm.
Quang minh đúng bậc nhân vương,
Bấy giờ khắp nước dựng trường đạo khai.
Từ tâm thấm khắp muôn loài,
Đến ngày kia có một người thợ săn.
Đến khi bệ kiến vua hiền,
Tâu chuyện săn bắn nơi miền đất xa.
Hôm xưa gã ở rừng già,
Gặp con voi trắng như là tuyết rơi.
Mang bành khảm ngọc sáng ngời,
Lên non hái trái lại rời khe mây.
Rình theo lâu mới được hay,
Voi thường nuôi mẹ ngày ngày động hoang.
Cuối khe trên nắm cỏ vàng.
Voi già nằm đó thân tàn trơ xương.
Vội vàng gã đến trào cương, ừ
Trình lên thánh thượng tỏ tường việc kia.
Ví bằng cho bắt voi về,
Thì xin dẫn đến động khe suối rừng.
Vua trầm ngâm giữa ngai rồng,
Truyền đem vàng bạc thưởng công chu toàn
Phán rằng: “ tình mẹ nghĩa con,
Dù cho trăm biển nghìn non nào bằng.
Từ bi là tình thương hằng,
Xem trong muôn loại cũng chung đạo trời.
Dù cho vật đổi sao dời,
Từ tâm trí huệ đời đời truyền lưu.
Giá gương phủ lấy nhiễu điều,
Tình như biển rộng bao nhiêu nước vừa.
Để voi ở lại rừng xưa,
Sớm hôm nuôi mẹ cho vừa hiếu tâm”.
Thợ săn bái tạ hoàng ân,
Lĩnh vàng bạc thưởng lui chân quay về.
Kể xong, Phật bảo: “ voi kia
Đã chăm nom mẹ sớm khuya một lòng.
Nên sau mẹ nợ cõi hồng,
Lại nương chính pháp thoát vòng trần lao.
Như chim thần vút cánh cao,
Đại phương cõi Phật ra vào nghiêm trang.
Đó là hiền giả A Nan,
Hiện thân giữa chốn đạo tràng tịnh tu.
Còn người quản tượng cho vua,
Mượn vòng lụa bạch kiếp xưa hủy mình
Kiếp này cũng dứt vô minh,
Như đêm thu nguyệt hương quỳnh thoảng bay.
Là ông Xá Lợi Phất đây,
Kiếp xưa điều tượng, kiếp này điều tâm.
Khởi giác tính, bạc mê lầm,
Như sen thường trụ trong đầm tanh hôi.
Dù cho muôn kiếp luân hồi,
Cũng theo đại nguyện cứu người tham mê.
Trong sinh tử hiện Bồ Đề,
Trí bi tự tánh hiện về nơi nơi.
Còn vua, nguyện cảm đất trời,
Phật tâm độ khắp muôn loài khổ đau.
Kiếp trần trôi nổi đã lâu,
Ba vào nguyện giải oán sầu lầm than.
Ngục sâu chuyển hóa Niết Bàn,
Ra tay tế độ vô vàn chúng sinh.
Từ tâm vua Đại Quang Minh,
Kiếp xưa khai sáng đạo lành là đây.
Giờ thân hiện xuống cõi này,
Trần gian dẫn lối, chỉ bày Phật tâm”.
Đài cao tỏa ngát hương trầm,
Suối xa thoảng tiếng thủy cầm líu lô.
Người nghe thoát khỏi mê đồ,
Lâng lâng bước nhẹ dưới bờ liễu dương.

PHÉP GIỚI TRAI

Ngày xưa trong rừng đàn hương,
Có nhà mái lợp mây vương sớm chiều.
Đường lên khúc khuỷu cheo leo,
Lội qua con suối lưng đèo cỏ non.
Cửa rừng đôi nhịp cầu son,
Dưới làng hoa trắng, hao mòn bóng in.
Thế tôn ở giữa đồi sim,
Mái leo hoa mướp, rào vin mây trời.
Tiếng thơm truyền khắp nơi nơi,
Ngày kia mới có một người phương xa.
Chẳng nề thân phận đàn bà,
Băng sông vượt núi tìm qua Kỳ Hoàn.
Trải bao trăng gió quan san,
Con đường muôn dặm nguy nan ngại nào.
Một lòng cầu đạo khát khao,
Như chim hạc nhớ mây cao cánh hường.
Bước chân vừa đến đạo trường,
Sầu tan theo hạt sương vương chớm ngày.
Rừng trầm phảng phất hương bay,
Quanh thềm đệ tử ngồi vây điệp trùng.
Tiếng nào như nắng tan sương,
Tiếng nào như áng văn chương nhiệm mầu.
Nghe xong cởi oán tan sầu,
Sông mê ai bắc nên cầu từ quang.
Phật tuyên giới ngọc đạo vàng,
Như hoa sen nở nghiêm trang trời người.
Luật như bảo ngọc khôn dời,
Giới như áo giáp hộ đời bình yên.
Là kiếm quí bạt ưu phiền,
Là xuân mưa đượm thắm miền an vui.
Truyền lưu tuệ mệnh đời đời,
Ao công đức thủy tẩy người trần sa.
Bấy giờ tín nữ Từ Hòa.
Chắp tay đứng dậy thiết tha nguyện cầu:
“ Nhân duyên chẳng biết bao lâu,
Các con nay được pháp mầu cứu ra.
Chúng sinh như số phù sa,
Biết đâu thánh giới để mà cầu nghe.
Cúi xin đại đức chở che,
Rộng tuyên đạo lý kết bè qua sông.
Dù cho mặt biển nên cồn,
Tấm lòng giới hạnh giữ tròn, dám phai.
Dù nơi mặt biển chân trời.
Còn thân còn nguyện cứu đời oan khiên”.
Phật truyền: “ Vì đại nhân duyên,
Phước căn muôn kiếp đã chuyên tích trồng.
Các con hãy nhớ ghi lòng,
Pháp đưa qua cõi lửa hồng tham sân.
Phá muôn giả tướng phù vân,
Người tu ác quỷ thiên thần cũng theo.
Tâm thân lợi lạc muôn điều,
Khiến cho muôn loại cũng chiêu cảm hiền.
Nhân lành nên khởi thiện duyên,
Nơi ngục lửa cũng như trên cõi trời”.
Bấy giờ đại chúng ghi lời,
Như đêm tối bỗng tỏa ngời ánh trăng.
Từ Hòa lại đứng thưa rằng:
“ Bạch thầy: về chốn xa xăm ngại ngần.
Bây giờ con trở bước chân,
Đường đi muôn dặm phù vân giải dầu.
Ngó vời xanh ngắt cồn dâu,
Hoàng hôn rồi lại nhuốm màu hoàng hôn.
Biết đâu bèo dạt song dồn,
Mốt mai đất viễn, gởi hồn cỏ cây.
Lấy chi đền đáp ơn dầy,
Lấy chi soi tỏ đường ngay nẻo tà?”
Trên thềm Phật ngự hiền hòa.
Phóng hào quang hiện đóa hoa nhiệm mầu.
Cánh sen ghì mấy dòng châu,
Là trang thơ chép nghìn câu pháp hiền.
Phật rằng: “ dù chốn ải biên,
Tụng dòng kinh nọ cũng yên đất trời.
Lời tan phiền não ba đời,
Như hương lan tỏa người người thơm lây.
Cánh hoa chép pháp cầm tay,
Từ Hòa lễ tạ, ai hoài bước đi.
Theo buồm mây trắng vân vi,
Thỉnh kinh mầu nhiệm, tu trì khuôn thiêng.
Xuôi dòng chim lượn sao nghiêng,
Thuận buồm xuôi gió như trên đất bằng.
Đường sông qua hết mùa trăng,
Đã trông thấp thoáng vân đằng cô thôn.
Về làng hai buổi sớm hôm,
Gõ cây tụng niệm giữ lòng giới trai.
Thuận trong cho đến hòa ngoài,
Cứu người thương vật một tay xá gì.
Coi đời như bóng mây đi,
Như không hoa hiện, như vì sao băng.
Thân tâm nghiệm đạo thường hằng.
Bồ Đề thắp ngọn tâm đăng chốn này.
Một đêm đang tụng tờ mây,
Chợt nghe ai tán đức dầy trên không:
“ chị như chim Lạc chim Hồng,
Chí tâm tụng niệm những dòng hương hoa.
Muốn dâng người một món quà,
Để gieo quả phúc muôn tòa bảo kim.
Đó là ngài Mục Kiền Liên,
Cùng Xá Lợi Phật hóa duyên ta bà.
Hiện đang trú ở rừng già,
Cách đây con suối tìm qua cũng gần.
Cúng dường là đại nhân duyên,
Là đường dẫn đến diệu huyền Như Lai.
Chị nhờ khi cúng lễ trai,
Nhắc cho hai vị gọi loài thần tôi.
Sẽ đem hoa của đất trời,
Kết thành hương khói tuyệt vời cúng dâng.
Từ Hòa cất tiếng hỏi rằng:
“ Ai trong đêm tối vân đằng qua thôn?”
“ Em đây là Tỳ Sa Môn,
Quỉ vương trị một thiên đường xa xôi.
Đang khi theo áng mây trôi,
Đứng nghe chị tụng bồi hồi luyến thương”.
Từ Hòa đáp quả lạ thường,
Người trời kẻ tục đôi đường khác xa.
Có đâu máu mủ một nhà,
Xưng hô em chị nghe mà khó xuôi”
Thần cười: “ dù tục, dù trời,
Cũng là con thảo dưới ngôi Phật hiền.
Người cha của khắp nhân thiên,
Gieo trồng nhân thiện các miền khác chi.
Chị là vị Ưu Bà Di,
Tôi Ưu Bà Tắc có gì xa đâu.
Cùng mang pháp chủng cao sâu,
Cùng nguyền đem đạo nhiệm mầu độ tha.
Bấy giờ tín nữ Từ Hòa,
Hiểu rằng chung một người nhà Thế Tôn.
Hỏi thăm xiết đổi mừng lòng,
Rằng: “ Ngài gọi đến tên ông là gì?
“ chị ơi thần lực oai nghi,
Nghe tên tôi, quỉ ma về hầu nghe.
Lại nhờ đạo lực chở che,
Dần dần cảm hóa tu trì theo gương”
Nói rồi thần lại lên đường,
Giữa trời lóe sáng dị thường vụt bay.
Từ Hòa thầm lặng ngất ngây,
Cảm vì oai đức cao dầy đức Cha.
Lòng thương trải khắp trần sa,
Trí ngời khiến cả ta bà kính thương,
Dù là ác quỉ thiên vương,
Cũng nhờ đuốc sáng soi đường tiến tu.
Mãi ngồi dưới bóng trăng thu,
Song thưa bóng nhạt…..chuỗi dài.
Dưới lầu sớm vọng tiếng ai,
Trình rằng: bên suối rừng ngoài đầu thôn.
Con thấy hai vị sa môn,
Là người bà vẫn kính tôn sớm chiều.
Vội vàng vén mở rèm thêu,
Tóc huyền tay chuốt dép điều chân khoa.
Gọi người thu dọn cửa nhà,
Truyền người sắm sửa trái hoa cúng dường.
Còn thân tự đến rừng sương,
Tìm ngay cội liễu bên đường thỉnh thưa:
Lòng con như hạ chờ mưa,
Ngưỡng trông Tam Bảo khắc chờ khôn nguôi
Giờ con tha thiết đón mời,
Xuống nơi thôn giã cho đời ân chiêm.
Bấy giờ ngài Mục Kiền Liên,
Cùng Xá Lợi Phất theo chân xuống làng.
Nắng mai rực rỡ sương vàng,
Ngón chân hồng nở, bên đàng hoàng rơi.
Trai đường vừa ghé tới nơi,
Trầm ùn hương tịnh sân ngời cánh hoa.
Uy nghi hai vị, hai tòa,
Theo sau thí chủ một nhà dâng hương.
Đầy thồi hoa trái cúng dường,
Hương pha chén ngọc, trầm vương đũa ngà.
Dưới thềm tín nữ Từ Hòa,
Đứng hầu cung kính một nhà trang nghiêm.
Tiệc tàn hầu nữ đôi bên,
Bưng hai chậu nước dưng lên người dùng.
Rửa tay xong ngồi ung dung,
Mục Liên chú nguyện khắp cùng bình yên.
Từ Hòa cung kính thưa liền:
Xin ngài gọi đến tên thần Tỳ Sa.
Duyên do lại thực trình ra,
Gặp thần ghé lại đêm qua trước lầu.
Sư rằng: cội đức dầy lâu,
Nên chiêu cảm cõi nhiệm mầu thần tiên.
Bạch thầy: “ con có nhân duyên,
Thường khi thần hiện báo riêng đôi điều.
Hoặc là che chở muôn chiều,
Tình như cha mẹ từ bao nhiêu đời.
Hoặc khi cứu vật giúp người,
Quỉ thần tán thán những lời vàng son.
Hoặc khi cúng dường sa-môn,
Thần còn mách bảo đôi đường thiệt hơn:
Vị này chứng quả Đà Hoàn,
Hoặc là Bồ Tát, hoặc phàm phu Tăng.
Nhưng con vẫn dạ khăng khăng,
Một lòng cung kính thường hằng xưa nay”.
Tôn giả tán thán: “ Hay thay!
Vô phân biệt thí hạnh này dễ đâu.
Cũng vì kiến chấp dầy lâu,
Trí phân biệt nọ, tâm mầu dần che.
Một đường xả ngộ lìa mê,
Tự tâm bi trí hiện về tỏ soi.
Làm gương cho khắp trời người,
Truyền lưu nghiệp đức đời đời còn thơm.
Phật dạy sáu pháp cúng dường,
Đó là nguồn cội con đường nhân thiên.
Một là bố thí bệnh nhân,
Hai là cho khắp kẻ bần đói ăn.
Ba giúp cơ nhỡ muôn phần,
Bốn là dắt dẫn qua cơn hiểm nghèo.
Năm là cúng dường tỳ kheo,
Sáu là giáo hóa muôn điều an vui.
Rộng thương khắp vật khắp người,
Một tâm bình đẳng khôn dời sớm hôm.
Chiều nay đón đức Thế Tôn,
Cùng đại chúng ghé hoa thôn cuối rừng.
Con mau tìm đến lễ mừng,
Phúc duyên này dễ đã từng mấy ai”.
Nói rồi tôn giả chắp tay,
Nghiêm trang y pháp về ngay đạo trường.
Từ Hòa sửa lễ cúng dường,
Sáng sau một kiệu hoa hương viếng người.
Một vùng lau lách xanh tươi,
Trang trại mây trắng ẩn vời núi sâu.
Phật đang phơi áo trên cầu,
Trên bãi cỏ tím như màu chiều sa.
Búp tay ngón ngọc ngón ngà,
Mặt như trầm nguyệt chan hòa từ nghiêm.
Nàng đem hoa trái dâng lên,
Phật cười, chỉ đến bên thềm đá cao.
Ngài ngồi trên võng tơ đào,
Hoa rơi y Phật khác nào tuyết bay.
Chim vàng lảnh lót đâu đâu,
Trong êm như suối đầu ngày vừa sa.
Mừng thay con mới gặp cha,
Tấc lòng tự sự biết là sao nguôi.
“ Thầy ơi! từ thủa xa người,
Thân con ải viễn chân trời khôn quên.
Dù cho núi não sông phiền,
Tiến tu giới huệ, nhiệm huyền biết bao.
Như người vượt biển theo sao,
Cánh thuyền nổi giữa ba đào như không.
Tháng ngày tha thiết ngưỡng trông,
Mở con mắt huệ dứt vòng trần lao.
Xóm con hằng vẫn khát khao,
Được ngài giáo hóa, ra vào ân chiêm”
Thưa rồi lễ tạ lui chân,
Tìm đi khắp chúng xa gần hỏi thăm.
Liêu kia có một vị nằm,
Trùm y thiếp ngủ mê man bệnh thời.
Vừa khi vị nọ trở người,
Từ Hòa mới đến ngỏ lời hỏi thăm.
Người rằng: bệnh đã lâu năm,
Nhân khi thời tiết bất thường phát ra.
Trông thầy tín nữ xót xa,
Thưa rằng: “ Ngài đã dùng qua thuốc gì?
Hoặc còn cân thiếu vị chi,
Cứ cho con biết kịp thí cúng dâng”
Người rên: thuốc đã đủ dung,
Duy còn thịt để nấu chung là cần.
Chiều nay con sẽ dâng lên,
Để người trị liệu cho liền bệnh thân.
Cúi chào mau trở bước chân,
Về thôn kiếm khắp xa gần thịt tươi.
Dù tìm khắp chợ, khắp nơi,
Đến khi nắng xế mặt trời chênh non.
Dù là một miếng thịt con,
Cũng không chuốc được để còn kịp dâng.
Tưởng khi người bệnh thiếp nằm,
Đợi hoài ai vẫn biệt tăm cuối trời.
Vả chăng đã hứa một lời,
Thân ta quên được chứ lời chẳng sai.
Liền cho cửa đóng then cài,
Tự tay lóc thịt gửi ngay đến người.
Đầm đìa một vũng máu tươi,
Đau như xé ruột mỉm cười như nhiên,
Khiến cho kẻ dưới người trên,
Nào ai hay rõ chỉ riêng đứa hầu.
Cũng nhờ thuốc đắp cầm mau,
Nếu không máu đã tuôn trào như mưa.
Tớ hầu kịp đến rừng đưa,
Vị kia đem thịt đun vừa lượng ăn.
Cũng nhờ nguyện lực tinh thành,
Uống vào một bát bệnh lành như không.
Từ Hòa có một người chồng,
Gã là thương khách theo sông buôn đò.
Mỗi năm mùa nước lên to,
Chở hàng xuôi ngược giang hồ bán buôn.
Ham tiền nhẹ nghĩa vợ chồng,
Để ai buồn lắng ngùi trông phương trời.
Nửa năm một chuyến đò xuôi,
Ghé về chốc lát lại dời bước chân.
Mặc người vò võ thu xuân,
Lầu trơ hiên nguyệt, cửa ngần khóa sương.
Lò trầm ai biến thêm hương,
Gối thêm bụi tỏa, đài gương gió mờ.
Nửa năm lửa đợi, hương chờ,
Một ngày vừa sáng tinh mơ rộn lời,
Ầm ầm đập cửa trăng rơi,
Vừa về đã rộn những lời nọ kia.
Thôi thì tiếng bấc, tiếng chi,
Thôi thì hoạnh hoẹ, thôi thì chê bai.
Thấy vợ nằm bệnh, than dài,
Gọi gia nhân gặng tra hoài căn duyên.
Con hầu như sự trình lên,
Rằng: bà lóc thịt cúng dường sa môn.
Vừa nghe trợn mắt phùng mồm,
Ra đường la lối rằng phường nọ kia.
Lời thêm tiếng bớt thiếu gì,
Thả tình bêu rếu khinh khi đủ đường.
Tin kia đưa đến đạo trường,
Có người Phạm Chí khinh thường Như Lai.
Duyên do cứ thực tỏ bày,
Phật truyền cho gọi đến thầy sa môn.
Rằng: nhận y, thực cúng dường,
Phải tìm hiểu rõ tận tường nguyên căn.
Thầy trình: trong lúc bệnh hành,
Vội đem điều trị cho lành ngờ đâu.
Thưa rồi mặt héo rầu rầu,
Phát lòng sám hối cúi đầu quì hương.
Phật dạy ba pháp y nương:
Là bất tịnh nhục chẳng thường được ăn.
Thấy người giết vật, chấp tranh,
Hoặc nghe tiếng vật lòng đành làm ngơ.
Hoặc còn một tín mười ngờ.
Đều là bất tịnh mê mờ bất nhân,
Phải thường thâu nhiếp tâm thân,
Chẳng cho vọng niệm tham sân dấy lòng.
Nói rồi Phật phóng thần thông,
Hóa thân đến đỉnh mây hồng vút bay.
Gã kia đang lúc rượu say,
Hết hành hạ vợ lại dày vò con.
Từ Hòa nằm thiếp trên giường,
Người trong xóm tụ bên đường lao xao.
Bỗng dưng một ánh bạch hào,
Thành mây năm sắc bay vào chơi vơi.
Hóa thân Phật ngự lưng trời,
Trên tòa sen quí sáng ngời oai nghi.
Như tinh tú hiện muôn vì,
Như ngàn ngọn núi lưu ly rỡ ràng.
Giữa mây lác đác sen vàng,
Hương đâu thoảng ngát thôn làng đẹp tươi.
Gió thơm lay tỉnh lòng người,
Bừng cơn ác mộng, diệu vời chân tâm.
Từ Hòa chợt bỏ chỗ nằm,
Vết thương chân đã nguyên lành như xưa.
Chồng nàng cũng tình mê mờ,
Gặp nhau yêu kính như vừa thành hôn.
Hào quang Phật chiếu qua thôn,
Hóa thành mưa nhẹ tươi cồn lá hoa.
Bấy giờ khắp xóm khắp nhà,
Niềm vui tràn ngập thuận hòa yêu thương.
Buồn phiền như thoảng tơ sương,
Ngưỡng trông oai đức pháp vương diệu vời.
Mừng thay ánh sáng ra đời,
An lành chung cả đất trời cỏ cây.
Rủ nhau tìm đến trang mây,
Suối xa âm vọng vơi đầy tiếng chim.
Cửa rừng qua nhịp cầu sim,
Mây bay trên đỉnh hoa in đáy dòng.
Vi vu tiếng hát rừng tùng,
Tiếng chuông trầm xuống vô cùng thiên nhiên.

VÀNG VÂN ANH

Xưa, miền núi đó đẹp vui,
Bên sông uốn khúc in trời như tranh.
Có người trưởng lão hiền lành,
Dựng nhà bãi núi vườn xanh bốn mùa.
Ngày vui xới đất trồng hoa,
Vuốt râu cười giữa ta bà khói sương.
Khi trà dưới rặng liễu dương,
Khi rong thuyền rượu rõi đường đào nguyên.
Và khi theo Phật hóa duyên,
Bước chân mầu nhiệm khắp miền thanh sơn.
Lại cùng tăng chúng ngắm sương.
Câu thơ xướng họa trong vườn hồng mai.
Hiếm hoi cầu tự khắp nơi,
Mới được một gái tuyệt vời sắc hương.
Sinh ra mang dấu lạ thường,
Cổ ngà có sợi tơ vàng quấn quanh.
Sợi vàng tỏa sáng long lanh,
Ba ngày, tự lúc vân anh chào đời.
Mẹ cha quí trọng tơ trời,
Như sợi chỉ mảnh mà dai vô cùng.
Dẫu khi tắm rửa, bế bồng,
Dẫu khi nghịch dứt đều không hề gì.
Tháng ngày thơ ấu trôi đi,
Đường hoa nâng gót xuân thì dậy hương.
Tuổi vui đuổi bướm trong vườn,
Gió say vuốt cặp má thơm ửng hồng.
Đào thơ môi hé cánh nhung,
Mắt huyền thụ cả dòng sông khuynh thành.
Đất hiền chung đức tinh anh,
Vườn cao rực rỡ một cành kiêu sa.
Rào xuân ong bướm khó qua,
Đã nhiều anh tuấn phương xa chốn gần.
Cậy người mai mối cầu thân,
Mà khuê trang vẫn chưa lần thuận nghe.
Lòng băng còn mãi hướng về,
Nẻo đường tế độ xa lìa trần lao.
Những đêm lặng ngắm trăng sao,
Những ngày thoáng cánh chim cao vượt ngàn.
Là tâm lại thấy mang mang,
nỗi thương xót chốn đoạn trường những ai.
Một hôm nàng mới thưa lời,
Xin cha mẹ dẫn đến nơi đạo trường.
Song thân nghe biết ý nàng,
Mừng khen con trẻ chọn đường lợi tha.
Nên cùng lựa trái, đơm hoa,
Thắng xe bốn ngựa hồng ra lễ đài.
Núi xanh thả gió theo người,
Triền sông lau lách bồi hồi tiễn đưa.
Tùng lâm mây biếc thướt tha,
Hoa leo vàng nở đơn sơ mái hiền.
Dưới cây từng bệ đá thiền,
Hàng hàng tăng lữ trên thềm tọa không.
Dáng như đá động trầm truông,
Dưới hoa thoảng mấy lò hương ngọt ngào.
Gặp Phật gieo hạt bên cầu,
Y tơ thấp thoáng như mầu triêu dương.
Vân Anh quì xuống bên đường,
Nắng soi hạt biếc là vương diệu vời.
Thưa: “ Con như hạt mưa rơi,
“ Phúc duyên đậu chốn tỏa ngời đài hoa.
“ Như mây tha thướt nắng tà,
Giờ xin quyết chí xuất gia tu hành.
Để sao nghiệm được chân tâm,
Nguyện về chuyển nghiệp mê lầm trần gian.
Cứu người trong chốn nguy nan,
Tùy phương diệu dụng Niết Bàn mở khai.”
Miệng xinh vừa ngỏ hết lời,
Vòng tơ xưa bỗng lại ngời hào quang.
Long lanh bao tỏa thân nàng,
Rồi tơ lại hóa lụa vàng pháp y.
Trước bao mắt thấy lạ kỳ,
Phật truyền cho một lão ni dẫn về.
A- Nan dưới cội hoa lê,
Thấy người khai ngộ chuyển mê lạ lùng.
Uy nghi như cánh chim hồng,
Đạp mây vỗ cánh vượt vòng trần lao.
Bèn thưa: “ nghiệp mệnh ra sao?”.
“ Sợi tơ bỗng hóa pháp bào lạ thay?”.
Thế Tôn kể chuyện : “ trước đây,
Tỳ Bà Phật xuống cõi này mở khai.
Nơi thôn kia, có hai người,
Vợ chồng nghèo khó sống đời xác xơ.
Chỉ còn một bộ vải thô,
Thay nhau mặc lúc cần đồ che thân.
Chồng đi cày mướn kiếm ăn,
Thì vợ đóng cửa ở trần, biết sao!
Đến ngày, bên triền núi cao,
Có Phật về độ tin vào thôn kia,
Chồng mượn quần áo đem về,
Hai người mới rũ nhau đi đón mừng.
Non mai lác đác chim rừng,
Vùng quanh kéo đến tưng bừng hội vui.
Trên tòa đá dựng chơi vơi,
Đức Từ Bi ngự, bao lời độ tha.
Ngài khuyên: “ Cứu giúp người ta,
“ Với lòng thương xót, chính là thiện căn.
Thương người như thể thương thân,
Chẳng còn ngờ vực ngã nhân chia lìa.
Giúp người tỉnh thức huyễn mê,
Giúp người hết sợ, mọi bề bình an.
Giúp người đói khát miếng ăn,
Giúp người hiểu biết nghĩa nhân với người.
Chia tiền sẻ của mà vui,
Giầu nghèo, nhiều ít tùy nơi sức mình.
Nay bằng gây các nhân lành,
Mai sau cõi thế quyền danh ngọc ngà…”
Vợ chồng như nở lòng hoa,
Về thôn gặp một cụ già ăn xin.
Gầy khô rách rưới thảm phiền,
Tựa ngoài vách đất lặng yên cuối đầu.
Xót xa ngươi vợ hỏi chào,
Rồi vào gài cửa cởi trao áo quần.
Rằng: ‘ thấy lão một thân,
Thành tâm nhường giúp manh quần áo đây.
Xin người nhận tấm lòng này,
Đó là Phật pháp hiện bày chính chân.”
Cụ già đứng nghĩ phân vân:
“ Vợ chồng này cũng manh quần mặc chung.
Cho ta, biết lấy gì dung,
Lấy gì che nắng che sương lần hồi.
Cửa kia đã đóng chặt rồi,
Mà lòng bố thí cõi trời mang mang.
Người vì trí Phật pháp vàng,
Thì ta đem vải cúng dàng lên tăng.
Lòng kia rực rỡ sao trăng,
Khiến mình vượt thoát nghèo nàn tiến tu.”
Thế rồi tâm niệm nam mô,
Đường xa, tìm đến bên hồ nguyệt soi.
Phật cùng tứ chúng người người,
Đuốc hồng như thể chân trời sao sa.
Cụ kia chẳng quản thân già,
Bên thềm dâng bộ vải thô ra trình.
“ Nhờ ơn Tam Bảo chứng minh,
Dẫu nghèo cực vẫn giàu tình nghĩa thay!”
Phật rằng: sau kiếp vị lai,
Phúc nhân bể rộng sông dài nào hơn,
Nghe qua pháp hội vui mừng,
Tâm kia như thể hương rừng chi lan.
Trong thành, trưởng giả, vua, quan,
Đều thương quí tấm lòng vàng biết bao.
Cùng nhau tiền của góp vào,
Tìm đôi nghèo nọ để trao gọi là…
Lại cho thóc giống gieo mùa,
Từ tâm khiến cả gió mưa thuận hòa.
Lộc ban vua khắp nhà nhà,
Núi non thôn xóm ngợi ca đức hiền.
Cũng nhờ gặp đại nhân duyên,
Hạnh lòng bố thí dâng lên cúng dàng.
Dù muôn ức kiếp bụi vàng,
Vào ra tơ báu thường mang bên mình.
Kiếp này như cánh phượng linh,
Tâm mầu hé mở bình minh cõi người.
Như hoa linh thoại trong đời,
Thiên thu nguyên khối vàng ngời ngọc hoa.
Như trầm xông cõi ta bà,
Mười phương pháp giới cũng là trang nghiêm”.
Trong rừng thoảng tiếng chim khuyên,
Nghe xong bể não non phiền sạch không.
Trông ra mấy nội đào hồng,
Ngàn cây đơm ngọc, mấy đồng tuyết hương.

TIỀN THÂN CỦA VỊ VUA TRỜI

Thôn xưa, hoa nở rực đường,
Sớm mai trời biếc sương vương dặm dài.
Lá xanh như vạn mây đài,
Đựng muôn hồng ngọc tỏa soi diệu kỳ.
Chân trời mây lẫn cò đi,
Cánh như lụa uốn xanh rì thảm tơ.
Sông xa vọng tiếng đò đưa,
Gió thơm từ núi mai mơ thoảng về.
Bước chân mở đạo Bồ Đề,
Bình minh trên tấm hoàng y tỏa ngời.
Đức Ca Chiên Diên là ngài,
Gót như hạc nổi mây trời lâng lâng.
Ngài đi về phía trời hồng.
Nương khoai xanh ngắt bềnh bồng chim ca.
Chợt trông thấy một lão bà,
Ôm thân rách rưới lệ sa sụt sùi.
Tôn sư nghe dạ bùi ngùi,
Dừng chân mới hỏi thăm người nọ kia.
Bà rằng: “ Thầy hỏi làm làm chi,
Thân già, nghèo khổ ra gì cái thân;
“ Một đời cơ cực gian truân
Bây giờ tuổi lão ai cần mướn tôi.
“ Làm gì được lúc mòn hơi,
Tìm đâu được một chút vui, đời tàn…!”
Nghe rồi, ngài Ca Chiên Diên,
Dùng thần lực trút ưu phiền bà kia:
“ Thân già nào đáng sợ chi,
Cái vui, đâu phải tuổi gì mới vui.
“ Có con đường lớn sáng ngời,
Gắng đi tất sẽ đến nơi ước cầu.
“ Ngồi đây trách oán thảm sầu,
Vùi mình trong khổ, ai đâu cứu mình”.
Bà nghe chợt nảy lòng thành,
Xin thầy chỉ dẫn đường lành cho ra.
Sư rằng: “ Bà xuống bến kia,
Ngâm mình dưới nước tắm cho sạch người.
“ Rồi lên trút giọt mưa ngời,
Đọng trên lá đò, xong rồi lại đây”.
Vâng lời, bà lão đi ngay,
Cố công theo đúng lời thầy bảo cho.
Khi bình trút đầy nước mưa,
Dâng lên tôn giả, nương nhờ thiền oai.
Thầy truyền thập giới trường trai,
Cùng pháp quán niệm đêm ngày tam qui.
Xong rồi tôn giả lại đi,
Đường xa in bóng hoàng y chập chờn.
Lão bà chống gậy lui chân,
Cây khô lại nở mạch xuân rì rào.
Ôm bình về tới thôn đào,
Tìm riêng xó chợ ai nào them qua.
Gặp người lắm chuyện rầy la.
Cũng im, vọng đức Phật Đà tín tu.
Chợ tan, giúp việc dọn thu,
Lòng vui, niệm Phật nam mô không ngừng.
Lại đem gạo vãi cơm vương,
Phát cho tổ kiến bên đường vào ra.
Một đêm dưới ánh trăng tà,
Bà ngồi quán tưởng Phật Đà lâng lâng.
Bỗng nghe sáo nhạc từng không,
Chư tiên ngự hạc cỡi rồng xuống chơi.
Hương thơm thoảng ngát từng trời,
Tàn vàng kiệu ngọc, tỏa ngời bảo châu.
Hoa muôn sắc, quả muôn màu,
Mời bà lên chốn ngọc lâu non bồng.
Sáng ra, kẻ dưới trần hồng.
Nhìn thấy bà lão bên trong vườn đào.
Lại xem thì chết từ lâu,
Nhưng xác ngồi tựa vách lầu ngắm hoa.
Mặt tươi như sạch trần sa,
Chủ vườn vội kéo xác ra ngoài rừng.
Trong khi trên đỉnh thiên cung,
Thức linh đã hiện tại rừng đào khai.
Bà nhờ công đức giới trai,
Làm vua Đao Lợi cõi trời vàng châu.
Chốn tiên nào biết ưu sầu,
Thung dung ngày tháng nhiệm mầu thần thông.
Lại đêm trăng chiếu cội hồng,
Ngài Xá Lợi Phất khởi lòng vân du.
Ngài vào khép cửa phòng tu,
Thần thông đi khắp Diêm Phù tiêu dao.
Lại vòng lên mấy vì sao,
Đâu đâu ngài cũng ghé vào thăm chơi.
Chợt qua Đao Lợi cung trời,
Thấy Thiên Vương nọ tỏa ngời hào quang.
Ung dung ngài tới điện vàng.
Vua kia vội đến cúng dàng thánh tăng,
Đang khi vui chuyện thiên đường,
Ngài liền hỏi thử nguyên căn vị này.
Vua trời rằng: “ phải nhờ thầy,
Căn ta còn mỏng chưa đầy huệ tâm.
“ Làm sao rõ được tiền thân,
Xin thầy vẹt bóng mây vần cho coi”.
Ngài dung tuệ nhãn chiếu soi,
Tiền thân của vị vua trời hiện đây.
Bên rừng giữa mấy lùm cây,
Tuyết còn ủ một xác gầy trơ xương.
Trí vua liền sạch mây vương,
Bấy giờ mới được tỏ tường tiền thân.
Cũng nhờ thiền lực oai thần,
Bỏ thân nghèo khổ tìm thân cõi trời,
Lòng vua thương cảm bồi hồi,
Chư tiên bay lại dâng lời hỏi han.
Mây năm sắc kết xe loan,
Vua cùng ngọc nữ, các quan thiên đình.
Xuống trần đúng chốn rừng xanh,
Nửa đêm, tỏa sáng long lanh diệu vời.
Chiên đàn gỗ chất chơi vơi,
Xác kia lại đặt trên nơi lửa bừng.
Khói thơm đưa khắp miệt rừng,
Hoa tiên trải cúng mấy từng mây vương.
Các nhà đây, đó trong thôn,
Nhận ra ánh sáng hương thơm huy hoàng,
Hoa trời theo gió chiên đàn,
Trông như thấp thoáng tơ vàng từng mây.
Lại nghe nhã nhạc đó đây,
Thiên tiên rực rỡ trùng vây ánh hồng.
Vội tin khắp bắc, tây, đông,
Người ra chật ruộng đồng ngắm coi.
Bảo nhau: “ vạn kiếp muôn đời?
“ Dễ gì gặp được người trời xuống đây.”
Bấy giờ từ chổ xe mây,
Vua trời Đạo Lợi giãi bầy trước sau:
“Tiền thân cuốc bẫm cầy sâu,
Duyên may gặp pháp nhiệm mầu Phật tăng.
Trường trai mười giới thường hằng,
Tiến tu qua mấy mùa trăng đã thành.
Được lên ở chốn thiên đìndh,
Là nhờ kiếp trước đinh ninh nguyện cầu.
Nhân nào quả đó theo nhau,
Tu thân nào kể bạc đầu tuổi xanh.
Giờ đây gọi chút duyên lành,
Thiên tiên gặp khách phàm trần phút giây.
Đền ơn Phật pháp sâu dầy,
Gọi là câu chuyện thức người tham mê.
Ai không sợ lúc hồn lìa,
Luân hồi sáu ngã vẹn bề nhân duyên.
Hãy lo cội phúc hiện tiền,
Đừng lo quả phúc nhân thiên sau này.
Gieo nhân hẳn sẽ có cây,
Khổ vui cũng một thân này buộc thân.
Nay đông mai hẳn sang xuân,
Có trời thì hẳn mười phần có ta.
Khi mê phúc cội hằng sa,
Tỉnh mê cội phúc như hoa bóng trời.
Dù thân dưới ngục ba đời,
Cũng là thanh tịnh cõi trời hóa thiên.
Trùng trùng duyên khởi nhân duyên,
An vui cũng đó, ưu phiền cũng đây.
Tỉnh lòng chẳng một phút giây,
Thiện tâm bừng khởi cũng đầy tam thiên.”
Nghe xong gió não sông phiền,
Tan khi vừng nguyệt hiện lên chiếu ngời.
Chim bay man mác lưng trời,
Nhân thiên như bóng mây dời rừng kia.
Như nghìn suối cuộn pha lê,
Như sông dục nước tìm về vườn sương.
Xa trông ánh sáng dị thường,
Hào quang của đấng pháp vương trời người
Như đêm biểu hiện mặt trời,
Như ba cõi nở nụ cười trí bi.

CHÀNG KIM THIÊN

Ngày xưa, nơi biệt thất kia,
Gần non sim tím bốn bề cúc lan.
Chim ca trong nội ngô vàng,
Nghe văng vẳng thấy âm đàn suối tơ.
Phu nhân sinh trẻ khôi ngô,
Cành cao, lộc quý trổ vừa tiết đông.
Bé trai mụ mẫm trắng hồng,
Hơi thơm như thể cánh bông nhung hường.
Khi sanh điềm báo dị thường,
Một hồ sen bỗng bên đường hiện ra.
Đáy hồ men bóng vàng pha,
Bên hồ liễu biếc la đà tóc lơi.
Nước thơm man mác say người,
Sen vươn mặt nước xanh tươi bao ngành.
Người nghe tin lạ điềm lành
Về xem như hội từ thành thị xa.
Ngợi khen phúc báo danh gia,
Tu nhân tích đức nếp nhà quí thay.
Từ non xa, có một thầy,
Mày râu tuyết điểm, nương câu trụ thiền.
Tới xem tướng tốt trẻ hiền,
Cho tên hai chữ Kim Thiên rỡ ràng.
Bảo: “ Mai mốt giúp nhân gian,
“ Con đàng hóa độ là đàng con đi”.
Nói xong thầy trở gót về,
Non cao, động biếc bốn bề khói mây.
Thu, Xuân đưa chuyển tháng ngày,
Thời gian xoải vó, ngựa say dặm vàng,
Kim Thiên danh tiếng đã vang,
Ai ai cũng kính yêu chàng đức cao.
Dáng oai đường bệ anh hào,
Vẻ hiền trầm mặc trăng sao đêm hồng.
Điển kinh ý tự uyên thông,
Trí như nhật nguyệt rộng lòng biển khơi.
Nguyện như núi vững khôn dời,
Thiếu niên đã hiện vẻ người trượng phu.
Khi vào đá động trầm tư,
Khi đêm tàn nguyệt thi thư nức phòng.
Khi vui cuộc rượu trăng trong.
Khi đàn thu dạ đầu sông bóng thuyền.
Mẹ cha bàn định nhân duyên,
Chọn nàng dòng dõi trong miền không xa.
Sắc tươi là vẻ chúa hoa,
Nết hiền là những dòng thơ khói trầm.
Khi sinh nàng cũng lạ lung,
Một ao bèo cũ hóa vùng hồ sen.
Rồi ngày chàng đến cầu duyên,
Song thân đẹp ý, đôi bên gặp chào,
Trông nhau cùng thấy lạ sao,
Vẻ quen như đã thuở nào tương tri.
Ngỡ ngàng đâu dám hỏi chi,
Bâng khuâng đôi dạ suốt kỳ hứa hôn.
Tới ngày ngựa đón kiệu son
Gối thơm chung mộng, trăng tròn sánh vai.
Cùng nhau tâm sự đủ lời,
Vẫn không nhớ đã gặp hồi nào xưa.
Đành cười coi gặp trong mơ,
Hai phương đồng điệu chuốt tơ hữu tình.
Một đêm chợt vọng âm thanh,
Chuông chùa tự đỉnh non xanh thức lòng.
Như vừa tỉnh giấc trần hồng,
Nhìn ra vằn vặc, hoa đồng nguyệt pha.
Hồ như vọng tiếng thiết tha,
Từ thiên thu gọi người về siêu nhiên.
Lâng lâng sạch não tan phiền,
Dường trong suối mạch thu xuân reo hò.
Tiền thân thoảng hiện giấc hồ,
Lênh đênh khổ hải xô xô cánh buồm.
Đêm vàng thoảng sợi tơ chuông
Nghe như thoảng ngát mùi hương tịnh trầm.
Kiếp nào làm cội hoàng tâm,
Đôi chim hát núi nghìn năm vụt về.
Kiếp nào làm cội bồ đề,
Cho mây giải thoát ôm kề sớm hôm.
Kiếp nào làm chớp làm sương,
Kiếp làm lau lách bên đường cái quan.
Và từ kiếp nọ nghèo nàn,
Vợ chồng cuốc nùi ươm lang bên rừng.
Một liều giãi nắng dầu sương,
Hai người riêng tạo thiên đường bướm hoa.
Dưới non, đường khách lại qua,
Vợ chồng mới dựng túp nhà cỏ thơm.
Ngày ngày lên ngọn suối tuôn,
Hứng bình nước mát cúng dường chúng sanh.
Sớm hôm bao kẻ bộ hành,
Dừng chân uống nước nghe mìmh thảnh thơi.
Thương thân như thể thương người,
Chẳng cầu lợi lộc tham lời ngợi ca.
Một hôm gặp Phật đi qua,
Hóa duyên từ một miền xa ghé vào.
Lều tranh bên cội hoa đào,
Uống thêm bát nước mát sao lạ thường.
Cúng dường mà chẳng cúng dường,
Chỉ còn một tấm lòng thương mới là.
Phật nguyện cho bực tín gia,
Mười phương thế giới cũng là một thân.
Chín mươi mốt kiếp phù trần,
Tâm kia như khối ngọc trần tỏa soi.
Vợ chồng khắn khít lứa đôi,
Vào ra sáu nẻo luân hồi như không.
Bây giờ nghe tiếng chuông hồng,
Tiếng “ 0M” thiền lực thoảng đồng trăng sao.
Xô tan vách mộng thành sầu,
Đất phiền nẩy hạt nhiệm mầu cỏ hoa.
Như đêm tối nguyệt hiện ra,
Như chim linh thoại tiếng hòa vô thanh.
Nghìn năm là giấc mộng xanh,
Sớm ra hóa hiện trên cành nguyệt mai.
Trần gian là chặng đường dài,
Còn ai thiên cổ dấu ai đi về.
Bâng khuâng bến thực thuyền mê,
Tay không lần chuỗi bồ đề cũng khôngh.
Dường trong một thoáng chuông đồng,
Chín mươi mốt kiếp trần hồng nổi nênh.
Mà trong một hạt bụi trần,
Chín mươi mốt kiếp thu xuân tiêu điều.
Gặp trong đáy mắt yêu kiều,
Tạng kinh vô tự cao siêu nhiệm huyền,
Đầu non đã hiện một viền thái dương.

DỨT LỤY TRẦN

Một thời đức Phật du phương
Ngự trong vườn trúc mây vương biếc chiều.
Bên dòng suối các trong veo,
Gian nhà cỏ dựng mây neo hững hờ.
Trên thảm cỏ nhung ven bờ,
Dưới cội hoa trắng vật vờ hoàng hôn.
Người ngồi quanh Phật Thế Tôn,
Trước ngài đặt một lò hương biếc trầm.
Tiếng vàng như suối vọng âm,
Khiến chim hòa điệu khiến đầm hoa lay:
“ Trong hàng đệ tử các ngài,
Dù đem châu ngọc cho ngoài tam thiên.
Chẳng bằng dứt lụy trần duyên,
Qua sông mê vọng nương thuyền trí bi.
Hoặc trong họ có người đi,
Hay mình tự giác viễn ly mộng trần.
Phúc này lợi lạc muôn phần,
Làm nên mạch sống tinh cần thế gian.
Ngục sâu kia hóa Niết Bàn,
Lòng thương trải khắp trần hoàn an vui.
Dù xây tháp ngọc lưng trời,
Dù hùng lực cứu muôn người hàm oan.
Vẫn là phúc báo thế gian,
Tham mê dẫn lối đưa đàng vào ra.
Chẳng bằng theo bước Phật Đà,
Chuyển thân, khẩu, ý: ba nhà lửa hun.
Thành bi, trí, dũng vô cùng,
Mở khai nghiệp cội, trùng trùng hóa duyên.
Mắt huệ trông suốt dưới trên,
Chí kim cang phá não phiền vọng mê.
Gieo muôn hạt chắc bồ đề.
Rợp che bóng mát bốn bề nhân gian.
Như tìm trong đất ngọc vàng.
Chuốt nên ánh sáng rỡ ràng thiên thâu.
Chiếu tan thành quách ưu sầu,
Khiến ma vương phải quay đầu qui y.
Đức cao chẳng phải tư nghì,
Mênh mang biển thẳm xanh rì hư không.
Nếu ai buộc cánh chim hồng,
Ngăn che chí cả trong vòng trần lao.
Thì nghiệp báo phải sa vào,
Ngục sâu lửa đỏ khác nào sắt nung.
Tội kia vạn suối nghìn sông,
Tạo nên biển khổ mênh mông song vời.
Xuất gia như cánh chim trời,
Mười phương là tổ, người người là thân.
Trí bi nguồn cội đức nhân,
Thấm nhuần muôn loại xa gần nhớ ơ .
Như hồ nở đóa sen thơm,
Giới hương đưa khắp mười phương tỉnh lòng.
Đưa nhau vượt thoát trần hồng,
Niết Bàn tự tại nơi lòng đại bi.
Thân như khuôn ngọc lưu ly,
Gương cho ba cõi hướng về tín tu.
Là xe pháp hóa diêm phù,
Nối đèn tiếp lửa cho dù biển dâu.
Là tinh tú giữa đêm thâu,
Là chùm bắc đẩu là cầu từ quang.
Diễn bầy ý ngọc lời vàng,
Bước chân tỉnh giác trên đàng chính chân.
Như trời hiện đám từ vân,
Chuyển cơn mưa pháp muôn phần đẹp tươi.
Nở hoa giữa ngục ba đời,
Trong hư vọng mỉm môi cười như nhiên.
Mười phương chống một gậy thiền,
Giọt sương cam lộ in viền chân như.
Dòng dòng triệu quyển nghìn thư,
Khế phương diệu dụng chuyển đưa độ đời.
Ngục sâu hết chúng sinh rồi,
Niết Bàn cũng tự lòng người hiện ra”.
Bấy giờ chủ một trang hoa,
Là bực trưởng giả hiệu là phúc tăng.
Tiền kho bạc đụn ai bằng,
Ngựa đeo bành ngọc xe chăng gấm vàng.
Trước sau vườn thúy thềm lam,
Sớm trà luận đạo, khuya đàn hòa mây.
.Tuổi cao đức rộng phúc dầy;
Thi thư nối nghiệp có bầy con ngoan.
Từ nghe pháp dưới chiều vàng,
Trở về lòng những mơ màng xuất gia.
Một đêm nghĩ lại chuyện qua,
Những là dục lạc, những là quyền danh.
Tuổi xuân thoảng giấc mơ xanh,
Tỉnh ra đã thấy đầy cành đông mai.
Dẫu là trăm vẻ trang đài,
Dẫu là mở cõi bồng lai dưới trần.
Dẫu là vàng đúc ngọc cân,
Dẫu là cứu giúp xa gần nơi nơi.
Dẫu là danh tiếng tột vời,
Chẳng sao chuộc được tuổi trời qua mau.
Xá chi quyền quí sang giàu,
Xá chi ngày tháng dài lâu hồng trần.
Một trò chơi suốt bao xuân,
Quẩn quanh ảo giác não cân rã rời.
Bây giờ tung cánh chim trời,
Thiên thu ai biết ai người qua đây.
Lênh đênh núi Bắc chiều Tây,
Như chim cất cánh họp bầy hồ giang.
Ông lên đi khỏi hoa trang,
Một thân tìm đến đạo tràng vườn kia.
Như chim nhớ núi tìm về,
Khi trông hoa lả mây kề ngõ mai.
Như nước nguồn nhớ sông dài,
Khi tim rộn rã máu ngày thanh xuân.
Vội vàng nhẹ lướt đôi chân,
Hồ như kẻ trốn nợ nần bấy nay.
Vừa vào ngõ trúc hoa bay,
Gặp thiền sư tọa dưới cây trầm hùng.
Lòng ông đang khấp khởi mừng,
Thân dường tan biến giữa rừng cỏ hoa.
Gặp ngày Phật hóa duyên xa,
Tìm thầy Xá Lợi nơi nhà quản tăng.
Ông quì cung kính thưa rằng:
“ Thân tục lụy thế gian đã từng.
Bây giờ muốn phát đại tâm,
Chuyển lòng cời nghiệp y nương bấy ngày.
Nhờ ơn tiếp dẫn nơi thầy,
Chở che bóng mát nương cây Bồ Đề”.
Biết rằng người phát tâm kia,
Hẳn căn cơ đã đến kỳ mở khai.
Thử lòng cho chắc một hai,
Sư rằng: “ tuổi cụ đã ngoài chin mươi.
Sức đâu tu tập với người,
Để truyền năm giới về nơi thôn nhà.
Thứ nhất hạnh tu tại gia,
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.
Vả chăng ốm yếu già nua,
Con đường tầm đạo gió mưa nào chừng.”
Nói rồi ông bỏ vào trong,
Phúc tăng nghe dậy nổi lòng ủ ê.
Chân dời đến gốc hoa kia,
Nghĩ thân nặng nghiệp đầm đìa lệ rơi,
Tuổi xuân xưa đã bay rồi,
Tiếc hơn vàng ngọc gieo nơi biển trùng.
Bây giờ lòng có nhớ thương,
Cũng đành trông bóng mây vương cuối ngày.
Bụi trần chẳng muốn thêm dây,
Tình đem thân gửi hồ này một phen.
Hồn ta hiện với cành sen,
Theo hơi hương ngát dâng lên cúng dường.
Bỗng đâu hiện đến đầu đường
Như cơn mây đỏ vương vương ráng chiều.
Phật cùng đại chúng tỳ khiêu,
Ôm bình về tới, y điều nghiêm trang.
Gót chân trầm mặc sen vàng,
Bước đi thanh thoát dưới hàng liễu mai
Phúc tăng vội đến bên ngài,
Ôm chầm tay đức Như Lai rạt rào.
Thốt thưa lời mãi nghẹn ngào,
Hai dòng lệ nóng thấm vào áo hương.
Phật đưa năm ngón tay hường,
Vuốt đầu trưởng giả như tuồng cha con:
“ Lòng ông so với ngàn non,
Non tuy mòn lở chẳng mòn tâm ta.
Tuổi ông dù đã nua già,
Chí còn nguyện dứt ta bà vô minh.
Vị chi mà lại trầm mình,
Nghìn năm khó gặp thân hình giả đây.
Tiến tu nào kể một ngày,
Thoát nhiên khai ngộ khắc dây cũng là.
Bây giờ đã biết nương ta,
Nghiêm trang giới pháp gắng mà vượt mê”.
Phúc tăng chống gậy theo về,
Cây cao trầm lặng bốn bề ra hoa.
Lựa ngày làm lễ xuất gia,
Mục Liên được chọn theo mà sửa sang.
Giới nghi pháp phục đường hoàng,
Rõ ra tăng tướng nghiêm trang khác người.
Sớm trưa thầm thoát đến ngày,
Lập đàn truyền giới họp bầy cao tăng.
Kiếp xưa nhờ lắm thiện căn,
Nên chi vào đạo học hành thông mau.
Nhưng vì tập nhiễm dầy lâu,
Cậy vào tuổi tác nên dầu với ai.
Kiêu căng tỏ ý hiện lời,
Thiền nghi thiếu hẳn vẻ người khiêm cung.
Khiến cho đại chúng buồn lòng,
Có người răn bảo thuận trong đạo tình.
Phúc tăng nghe đó làm thinh,
Bỏ đi ra vẻ bất bình lắm thay.
Nghĩ thầm ta tuổi chừng này,
Khiêm cung chỉ với một thầy mà thôi.
Các ông bằng tuổi con tôi,
Giở chi cái vẻ ăn ngồi bực trên.
Càng suy càng lắm buồn phiền,
Định vào rừng chết cho yên thân rồi.
Mục Liên thiền lự trên đồi,
Dùng thiên nhãn chiếu sáng ngời gần xa.
Bên khe thấy đệ tử già,
Dưới dòng nước bạc vừa sa thân gầy.
Ngài dung thần lực vớt ngay,
Thần thông đạp nắm mây bay xuống bờ.
Thấy thầy lòng những ngẩn ngơ,
Phúc tăng còn tưởng giấc mơ tỉnh dần.
Rằng: “ con xả phú cầu bần,
Tìm nơi giải thoát nương thân cuối chiều.
Vì còn thói xấu tật kiêu,
Lòng toan tự vận cho tiêu nghiệp trần.
Trần gian sớm dứt nợ nần,
Đem bùn tanh xuống rửa chân dưới dòng”.
Mục Liên thầm nghĩ trong lòng,
Chẳng trồng nhân thiện lại mong quả lành.
Dễ chi vào cửa phù trần,
Trăm nghìn vạn kiếp một lần khó thay.
Non vàng khó sánh thân này,
Xô tan mê vọng tự tay mới là.
Phải dung thần phép hóa ra.
Làm phương cứu chữa lòng già đảo điên.
Bèn truyền: nắm áo bay lên,
Giữa hư không chớ có quên điều này.
Cấm lòng loạn tưởng đó đây,
Nhiếp tâm chính niệm theo thầy vân bôn.
Phúc tăng vừa nắm áo xong,
Bỗng như một sợi tơ hồng vút cao.
Bên tai mây cuộn ào ào,
Như bông hoa nhở rơi vào từng không.
Chẳng bao lâu hạ trên cồn,
Ầm ầm biển réo ghê hồn dưới chân.
Còn đang đứng lặng phân vân,
Thầy trò đã gặp một thân đàn bà.
Xương lòi, thịt thối rã ra,
Một con bọ lớn như là ngón tay.
Quẩn quanh bò khắp đó đây,
Hết luồn hố mắt lại vầy vành môi.
Hai người ngó xác sình ôi,
Quán thân bất tịnh, lát rồi lại đi.
Giữa đường gặp một nữ nhi,
Vai đeo chảo lớn đi về biển reo.
Thầy trò dừng bước ngó theo,
Cô kia múc nước, ôm trèo bãi cao.
Đun sôi rồi tự nhảy vào,
Rã tan xương thịt bọt trào gớm ghê.
Lửa tàn vạc cũng khô đi,
Gió đâu thổi bốc bụi gì tanh hôi.
Tự nhiên lại hiện thân người,
Lại ôm vạc xuống rú cười giờ lâu.
Phúc tăng nhắm mắt quay đầu,
Tính xin thầy chỉ trước sau ngọn ngành.
Thấy ngài trầm mặc trang nghiêm,
Lại thôi chẳng dám nhìn lên ngỏ lời.
Thầy trò lại tiếp đi ngay,
Vừa qua một quãng đường dài đã nghe.
Tiếng rên non nỉ tỉ tê,
Từ thân cây nọ bốn bề sâu ăn.
Phúc tăng nhát thấy rợn mình,
Vội vàng xoải bước thu hình lướt qua.
Thầy trò thêm một quảng xa,
Thấy no kiếm dựng sáng lòa hôi tanh.
Bỗng từ đỉnh núi một anh,
Lăn mình trên kiếm thân phanh nát nhừ.
Dòng dòng máu đỏ như mưa,
Phúc tăng hồn phách bây giờ tiêu tan.
Vội vàng lướt soải bước chân,
Cuối đường hun hút phù vân dật dờ.
Thầy trò lại gặp bên bờ,
Một bầy quỉ dữ hét hò rượt theo.
Một người mình rắn đầu beo;
Trên đường lẫn trốn hiểm nghèo gớm ghê.
Cung tên giáo mác bốn bề,
Hàng ngàn mũi nhọn lao về liên miên
Vừa trông thấy Mục Kiền Liên,
Một bầy quỉ dữ phục bên đường dài.
Phúc tăng sợ chẳng ra hơi,
Một lòng tưởng Phật chẳng dời niệm thiêng.
Lại theo cất bước trèo lên,
Núi xương ai chết ngay bên vệ đường.
Thầy trò lên đỉnh núi xương,
Nhìn ra muôn song trùng dương dựng thành.
Phúc tăng khiếp đảm nhìn quanh:
“ Xin thầy chỉ dạy ngọn ngành trước sau.
Vì đâu người nấu vạc dầu,
Vì đâu cây nọ rầu rầu đứng kêu.
Vì đâu núi kiếm thân bêu,
Vì đâu trăn nỗi nghìn chiều thảm thương”.
Thầy truyền ác báo tai ương,
Vô thường tìm chốn vô thường vào ra.
Tự ta lại buộc thân ta,
Non cao dễ vượt ái hà khó vơi.
Bãi kia một xác sình ôi,
Đó là vợ đẹp của người khách thương.
Theo chồng đang vượt trùng dương,
Vào ra nhồi phần son gương bấy ngày.
Một đêm gió dập mưa vầy,
Lao đao thuyền nọ chìm ngay giữa dòng.
Còn đâu má phấn môi hồng,
Hồn nương ngọn song, thân bồng bềnh trôi.
Biển nào giữ xác sình ôi,
Dạ Xoa, La Sát trả hồi đất kia.
Nàng vì tham sắc chưa lìa,
Đọa thân trùng nọ đi về coi trông.
Chấp mê giả tướng bụi hồng,
Quẩn quanh ái ngả trong vòng trần lao.
Nên làm kiếp bọ ra vào,
Hố tai hố mắt khác nào động hang.
Theo tâm vọng huyễn tham lam,
Chấp đâu lại lựa con đàng về đâu.
Kẻ nào cậy thế sang giầu,
Tranh cơm kẻ khó đạp đầu dân đen.
Đầy lòng xiển nịnh ghét ghen,
Đoạt tiền, cướp vợ, bán tiền, tranh công.
Trước là mắc bịnh hàn phong,
Lạnh như vùi tuyết nên lòng ước ao.
Lửa hơi thân chết đọa vào,
Hỏa thiêu địa ngục khác nào nấu nung.
Hoặc ngươi mưa đoạt ruộng nương,
Phá chùa thờ Phật giảng đường chư tăng,
Giữ giam người chốn giá băng,
Ăn gian, ăn bớt áo quần phát ban.
Trước là bệnh nhiệt khô ran,
Chết đi hồn đọa ngục hàn cứng thân,
Đớn đau nhức nhối trăm phần,
Xương khô thịt nát như giần xác xơ.
Hoặc người tích trữ đầu cơ,
Khiến dân đói khát vật vờ nơi nơi.
Trước là mắc bịnh đầy hơi,
Chê cơm sợ nước, đọa loài quỉ kia.
Đói như lửa đốt bốn bề,
Mỗi năm tháng bảy kéo về giựt ăn.
Hoặc người ngu muội mê sân,
Khinh chê chính đạo nhân luân bỏ ngoài.
Đốt kinh xé sách Như Lai,
Đọa vào kiếp thú đời ngu si.
Nếu người trí dũng từ bi,
Giữ gìn năm giới qui y thánh hiền.
Một lòng thương dưới kính trên,
Chẳng làm phiền não láng giềng ai ai.
Một khi trút bỏ hình hài,
Thân không bệnh khổ tâm ngoài an nhiên.
Nghe kinh, ngắm tượng ân chiêm,
Khởi tâm bố thí phát nguyền thanh cao.
Lìa thân, thần thức sinh vào,
Cung trời đâu xuất ăn đào trường sinh.
Hoặc trần gian chốn hiển vinh,
Hiền ngoan rất mực thông minh khác người.
Đều do niệm sắp lìa đời,
Dẫn vào địa ngục lên trời cũng đây.
Tu nhân: niệm thiện khai bầy,
Chính tâm tưởng Phật đài mây đón về.
Tịnh độ là cõi lưu ly,
Thần thông trí tuệ từ bi một lòng.
Hoặc sinh nơi cõi trần hồng,
Muôn tai nghìn nạn cũng đồng tránh qua.
Ác nhân: niệm khởi xấu xa,
Lại tìm ngục khổ ái hà báo thân.
Đều do tâm lúc lìa trần,
Dù vinh hay khổ muôn phần cũng đây.
Tiến tu cởi nghiệp sâu dầy,
Linh quang hóa hiện phương tây cõi thường
Thị kia chết đuối trùng dương,
Vì tham luyến chút phấn hương tẩm người.
Thức linh đọa xuống thân dòi,
Vào ra quanh quẩn trông coi giả hình.
Còn người đun nước trầm mình,
Tiền thân bóc lột sinh linh đủ điều.
Lại còn thề thốt gian điêu,
Bây giờ họa báo trăm chiều gớm ghê.
Sau đây hỏa ngục lại về,
Mới là quả báo bốn bề chém đâm
Còn cây than khóc bên đường,
Khắp mình sâu đục như dường đớn đau.
Tiền thân là vị tỳ khiêu,
Lấy của thường trụ dùng nhiều việc riêng
Họ hàng kẻ dưới người trên,
Lại nhờ của đó bon chen làm giầu.
Bây giờ thân hóa làm sâu,
Rúc quanh cây nọ đớn đau muôn chiều.
Còn người mình mọc trăm đầu,
Bị bầy ác quỉ theo sau rượt hoài.
Trước hay săn bắn muôn loài,
Bây giờ đày đọa bi ai nào chừng.
Còn người lăn đỉnh rừng gươm,
Thây băm máu đổ như tuồng nát tan.
Kiếp xưa là vị tướng quân,
Xông pha xâm lược dấu chân máu đầy.
Bây giờ gươm giáo phanh thây,
Ngục sâu thăm thẳm dạn dày một thân.
Còn đây xương chất trắng ngần,
Là ông ngày trước tiền thân một thời”
Phúc tăng nghe nói điếng người,
Nhìn xem một đống xương phơi rõ ràng.
Thầy rằng: “ tương báo oan oan,
Cũng do nhân quả con đàng vào ra.
Thủa xưa có vị vua cha,
Trị vị rất mực nhân hòa không hai.
Dưới trên cho đến trong ngoài,
Nhân dân hòa thuận nơi nơi nể vì.
Dân giàu nước mạnh kể chi,
Vua cha lấy đạo từ bi hòa người.
Có một thái tử ham chơi,
Ưa môn cung kiếm chê lời hiền lương.
Nhà vua vì nặng lòng thương,
Ngờ đâu mở cửa cho phường tặc nhân.
Khi vua trăm tuổi an phần,
Bốn phương khói lửa dấu chân bạo tàn.
Xông pha trúc chỉ ngói tan,
Dưới chân thái tử ngàn ngàn thây phơi.
Sinh người chẳng dạy thành người,
Thà đem vương quốc trao mời hiền nhân.
Tội con cha gánh muôn phần,
Nên vua đọa xuống làm thân cá tràng.
Biển đông một cõi nghêng ngang,
Dưới lòng sóng động chiêu hàng cá tôm.
Loại này sợ ánh thái dương,
Chỉ chờ đêm tối mới trườn mình lên.
Một ngày trời nổi mây đen,
Sóng gầm biển động tưởng đêm nào ngờ.
Cá liền len đến ven bờ,
Phơi thây nằm ngủ vật vờ sóng trôi.
Nào ngờ mây kéo cơn rồi,
Nắng hồng ló dạng lưng trời chói chang.
Thảm thương thay kiếp cá tràng,
Bốn bề chỉ thấy hào quang chói lòa.
Mắt mờ đâu lối vào ra,
Đành nằm bờ cát chờ mà siêu sanh.
Đầu thai vào giữa vương thành,
Cũng nhờ kiếp trước tu hành dầy lâu.
Sinh ra gặp chổ sang giàu,
Tiền kho bạc đụn vàng châu kể gì.
Nhân xưa nở hạt từ bi,
Cứu người thương vật quản chi của trời.
Còn đây kiếp trước xương phơi,
Mây che đỉnh ngọn sóng dời dưới chân.
Phúc tăng nhập hóa siêu thần,
Nghe như thoát khỏi nghìn cân đá cùm.
Nghĩ tâm muôn ngọn sóng trùng,
Nổi nênh sinh tử vô cùng réo trôi.
Hốt nhiên tâm vọng bao đời,
Tan như sương khói lưng trời thoảng bay.
Thầy trò lại biến lên mây,
Dưới chân thăm thẳm sóng dầy trùng dương
Thầy như hoa đốm hư không,
Trò như một cánh chim hồng theo sau.
Mây bay nờm nợm ngang đầu,
Hạ chân đã thấy cây cầu suối ngang.
Thầy trò về tới đạo tràng,
Hòa nhan ái ngữ giữa hàng chúng tăng.
Thân hồng như tỏa hào quang,
Miệng từ như đóa sen vàng đơm hương.
Sớm nghe chim hót bên giường,
Chiều trông khói thoảng mây vương trước lầu.
Một đêm gặp Phật trên cầu,
Chỉ viền trăng dưới dòng sâu tỏa vàng.

CHÚ TÂM MAI

Một thời sau Phật Niết Bàn,
Bốn phương rực ánh huy hoàng trí Bi.
Khói sương tự viện xanh rì,
Nơi nào nơi chẳng triển thi đạo vàng.
Khiến cho các nước lâng bang,
Bỏ theo tà đạo quay sang lẽ thường.
Theo nhau thiết dựng đạo tràng,
Như sen thắm nở ngát hương ta bà.
Khắp nước gác chuyện can qua,
Tín tâm trai giới nhà nhà an vui.
Đạo như mưa tỉnh lòng người,
Như trăm hoa nở dưới trời chiêu dương.
Đất kia có đồi lan hương,
Mùi thơm quyện áng sương vương sớm chiều.
Bên khe suối bạc tịch lieu,
Nhã Lan của vị Tỳ Khiêu trụ trì.
Ngày ngày cùng một sa di,
Trồng khoai cấy sắn sá gì nắng mưa.
Như đồi lan nở bốn mùa,
Xuân thu ngó nắm hoa đưa suối nào.
Vàng son mặc cuộc chiêm bao,
Bưng tai chuyện thế rì rào gió thu.
Bao năm ngồi lắng tâm tu,
Soi trăng viết sách đền bù đàn na.
Hoặc khi niệm Phật dưới hoa,
Hoặc chiếu quán tưởng mây sa cuối ngày.
Hoặc khi cuốc núi trồng cây,
Đói no một chén vơi đầy cũng xong.
Thênh thang ngoài cửa bụi hồng,
Đầy lòng thiền vị vơi lòng ngô khoai.
Thôn bên có một nhà người,
Ruộng cò thẳng cánh, lưng trời lầu cao.
Vườn thu vừa chớm nụ đào;
Tên nàng Ánh Ngọc ra vào cợt hoa.
Hoặc khi chuốt tiếng tỳ bà,
Sau mành thả tóc la đà trầm bay.
Hoặc khi tựa cội liễu gầy,
Hồ in bóng khiến vơi đầy sóng xanh.
Trong vùng đã rộn yến oanh,
Lầu còn tỏa kín một cành quỳnh thu.
Nhân ngày vào hạ tháng tư,
Chị em sắm sửa lên chùa dâng hoa.
Đu đưa võng tía quạt ngà,
Lưng non ẩn hiện mái nhà khói hương.
Cheo leo vượt mấy ngã đường,
Gió thoang thoảng ngát suối vương vương dòng.
Qua cầu tay vén rèm hồng,
Nhìn ra gặp tiểu nhác trông khác người.
Mặt như nửa trái đào tươi,
Mắt thăm thẳm phượng, môi ngời ngời son.
Đơn sơ dưới bộ nâu sòng,
Dường như chú lội xuống dòng tìm chi.
Vừa trông, ửng má xuân thì,
Như cây rạo rực tới kỳ đơm hoa.
Cầu tre nàng đã đi qua,
Chừng còn tiếng suối la đà dòng xuân.
Ngờ đâu lưng núi mây vần,
Mái tranh ẩn dấu văn nhân tuyệt vời.
Đã nghe chú mấy tháng trời,
Tâm Mai đây hẳn tên người học tăng.
Chị em vào tiến hương đăng,
Nhà đôi mái cỏ hoa giăng ngoài rào.
Trước sau bờ trúc thềm đào,
Hồng chuông vẳng giữa non cao lặng thầm.
Lò đồng tỏa khói đưa hương,
Trên đài sen tượng pháp vương hiền từ.
Ánh Ngọc nghe tiếng nam mô,
Nhác trông còn tưởng giấc hồ liêu trai.
Đón vào nghỉ giữa nhà trai,
Người đâu mũi trúc mày ngài nghiêm trang.
Thết trà ướp cúc hoa vàng,
Tiểu Mai nâng chén đưa sang mời chào.
Bàng hoàng Ánh Ngọc nghiêng trao,
Tách trà thơm đổ hoen vào áo tơ.
Tâm Mai thay chén trà đưa,
Khiến ai đôi má ửng vừa trái hương.
Chị em bầy lễ cúng dường,
Hỏi ra hòa thượng du phương chửa về.
Giúp nhau sửa lại dung huê,
Rồi lên chính điện chỉnh tề lễ dâng.
Nhìn tay ai nhịp hồi chuông,
Khiến nàng quỳ dưới lòng thầm nao nao.
Suối xa vẳng tiếng thì thào,
Lễ xong ngỏ ý xin vào vườn mai.
Bước son tha thướt trang đài,
Dưới hoa, khép nép một vài nữ lưu.
Tiểu Mai dẫn trước đăm chiêu,
Bước qua rừng liễu muôn chiều nghiêm trang.
Đằng sau thỏ thẻ oanh vàng,
Tiếng cười tiếng nói dưới hàng đào khai.
Ánh Ngọc xin nhánh hoa cài,
Lại nhờ chú tiểu Tâm Mai bẻ dùm.
Người thì ưng ửng hoa dung,
Người thì muôn vẻ ngại ngùng trao hoa.
Đã trông chênh chếch bóng tà,
Nàng còn bịn rịn, cáng hoa dục về.
Qua dòng suối nhỏ pha lê,
Doi nghiêng liễu ủ hoa ê mấy bờ.
Cửa tùng đôi cánh trơ trơ,
Người ơi biết đến bao giờ gặp nhau.
Một đoàn kẻ trước người sau,
Hoàng hôn vội dục bước mau đường vàng.
Thôn xa ùn ngọn khói lam,
Bâng khuâng cánh nhạn sang Nam xạc xào.
Nhạn vui rừng lý khe đào,
Mặc hoa vườn kín lầu cao một mình.
Nàng về ngưỡng cửa gia đình,
Mà lòng trăm mối tơ tình vấn vương.
Thế rồi, tóc biếng ươm hương,
Song khuya tựa cửa đêm trường nép hoa.
Chiều chiều thơ thẩn vào ra,
Tình vương cửa Phật mới là trớ true.
Ngày qua ngày lại tiêu điều,
Mẹ cha lo lắng đã nhiều hỏi han.
Cho dù săn sóc thuốc thang,
Ủ ê hồn quế mơ màng vóc mai.
Khi mê sảng lúc nói cười,
Tưởng rằng quỉ bệnh, cho mời thiền sư.
Thầy trò xuống núi vân du,
Về thôn tụng niệm đền bù tín gia.
Vừa nghe nàng tỉnh mặt hoa,
Đòi đi lễ Phật cả nhà mừng vui.
Vừa thấy mặt đã ngậm ngùi,
Cầm lòng chẳng được, sụt sùi lệ vương.
Bấy giờ cha mẹ tỏ tường,
Bể tình ai dễ đo lường nông sâu.
Ông bà to nhỏ phòng sau,
Trăm phương ngàn kế cùng nhau luận bàn.
Ông đòi rẽ phượng lìa loan,
Bà xin lo lắng vẹn đường cho xong.
Vả chăng tánh trẻ đương nồng,
Biết đâu ngọc nát vàng tan cũng là.
Tính vào hơn hẳn bàn ra,
Lệnh ông nào đọ cồng bà xưa nay.
Ông trầm ngâm hiến mưu hay,
Mời tiểu ở lại đôi ngày tụng kinh.
Để dò cho rõ ngọn ngành,
Phải duyên thì cũng tác thành có sao.
Rồi ông lựa dịp thưa vào,
Xin Tâm Mai ở thôn đào đôi hôm.
Đưa thầy trở bước chùa hương,
Theo chân suốt mấy dặm đường chưa chia.
Sư dặn: thôi để thầy về,
Nghiêm trì lịnh giới chốn quê là nhà.
Vả chăng yếu lý Phật Đà,
Như sen nở giữa ái hà bùn hôi.
Dù trong sinh tử ba đời,
Trí Bi thì cũng là nơi Niết Bàn.
Giờ thầy về chốn non lan,
Cửa thiền ai để lửa tàn nến trơ.
Bóng thầy sương tỏa đường mờ,
Tiểu Mai còn đứng thẫn thờ ngó theo.
Non xa vương áng mây chiều,
Ven đường lau lách tiêu điều ùn sương.
Gia nhân đến dục bên đường,
Kịp về kinh sách lửa hương đến giờ.
Đường quê trở bước thẫn thờ.
Nhớ non nhớ suối phút giờ chẳng nguôi.
Giữa nơi lạ cảnh lạ người,
Lao xao là thói chợ trời ganh đua.
Quanh chàng kẻ dạ người thưa,
Tưởng lầm ai chẳng mến ưa chốn này.
Thôi thì nệm phủ màn vây,
Đứng ngồi chàng vẫn chưa khuây khỏa lòng.
Vẳng đưa sau bức rèm hồng,
Phòng trên ai chuốt tơ đồng nao nao.
Lúc dường sóng thấp sóng cao,
Lúc đường suối lạnh thì thào đâu đây,
Mùi hương dục nhớ thương thầy ngẩn ngơ.
Cửa ngoài có tiếng người thưa:
“ Mời chú lên gặp ông chờ phòng riêng”.
Con hầu khép nép đưa lên,
Tiểu Mai đã thấy thềm trên hai người.
Đón vào dung mao tươi cười.
Khách phòng trang trí vàng ngời gấm nhung.
Bà rằng: “ Thấy chú mà thương,
Chẳng hay lệnh mẫu nghiêm đường giờ đâu?.
Tuổi xuân như ngọc như châu,
Sớm tìm chi đạo cao sâu Phật Đà.
Chẳng bằng giúp nước giúp nhà,
Am tranh vùi uổng tài hoa của trời”.
Tiểu thưa: “ oan uổng đời đời,
Cũng vì tham luyến khôn dời sắc thân.
Tốt tươi cũng nắm phù trần,
Đất, nước, gió, lửa xoay vần có không.
Chi bằng ngoài cửa trần hồng,
Muối dưa ngày tháng vui lòng tiêu dao”.
Ông rằng: “Đâu chẳng chiêm bao,
Rồi ai chẳng một hố đào nông sâu.
Xem ra quyền quý sang giàu,
Còn hơn ngô sắn muối rau hợm mình”.
Tâm Mai ngồi đó làm thinh,
Nghe lời lòng những bất bình sâu cay.
Giờ lâu đứng dậy kiếu ngay.
Về phòng cửa đóng then cài nghiêm trang.
Ngoài song lại lảnh tiếng vàng,
Trông ra đã thấy một nàng hầu trao:
Cô tôi trộm ước thầm ao,
Mượn tôi gửi chiếc quỳnh dao tram này.
Trăm nghìn xin cây nhờ tay,
Đưa gói lụa ả kiếu ngay lên lầu.
Hồn chàng vơ vẩn đâu đâu,
Mở trong vuông lụa là màu giấy xanh.
Kèm theo một chiếc trâm quỳnh,
Vừa xem như ngỏ ý tình lẳng lơ.
“ Rằng từ dạo bước vườn mơ,
Phòng thêu ai để hững hờ gió thu.
Hẳn thầy hiểu lẽ đường tu,
Chữ sinh là trọng, chữ từ là hơn.
Vì ai liễu rũ hoa hờn,
Tử sinh tơ tóc đòi cơn vì người.
Hai ta hẳn nặng thề bồi,
Giờ xin sống thác một đời vẹn trao.
Thân em như giải lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Bây giờ mình gặp nhau đây,
Phận hồng xin cậy lòng thầy từ bi.
Bằng không đành gửi xuân thì,
Lòng này đã chết tiếc chi nữa là.
Nghìn tờ khó giải sầu hoa,
Nếu khêu phòng vắng, giọt sa lệ dài.
Xin ai hiểu thấu lòng ai,
Tiện đây gởi chiếc trâm cài làm tin”.
Xem xông khép lá thư tình,
Nỗi người vương vấn, nỗi mình hoang mang.
Nghĩ thân muôn trái nghìn oan,
Xuống sông ta rũ bụi vàng cho xong.
Lụy nhau giả tướng trần hồng,
Quẩn quanh theo mãi một vòng vào ra.
Bước chân quyết vượt ái hà,
Lời thầy thường nhũ biết là sao nguôi.
Vì đâu dòng lệ đầy vơi,
Uổng thân trai giới quên lời nguyện riêng.
Thì trần duyên trả nhân duyên,
Đành đem cái chết chuyển vần nghiệp ai.
Hồn ta nguyện với hồn mai,
Thu, Đông trắng điểm một vài tuyết hoa.
Đôi dòng gửi lại trần sa,
Vòng oan mượn tấm rèm là làm phương.
Năm sau trên đồi lan hương.
Hoa rơi rơi với hồi chuông mơ hồ.
Khi chiều nắng nhạt lưa thưa,
Có người gặp tiểu ni cô hiền hòa.
Nghiêng nghiêng quét gốc mai già.
Rồi đem hoa rụng đổ ra suối dài.
Nước thành một giải tơ mai,
Thầm trông như tưởng bóng ai giữa dòng.

SẠCH NHƠ CŨNG MỘT LÒNG NÀY

Chuyện xưa tại xóm Bình Đông,
Gần thành Xá Vệ có đồng nho tươi.
Là nhà hào phú đắc thời,
Cậy quyền ức hiếp bao người cực thay.
Muộn mằn vợ mới mang thai,
Tưởng là quý tử mừng vui đợi chờ.
Nào hay khi trẻ sinh ra,
Không tai không mắt xấu xa ghê người.
Đau lòng, nuôi dấu một nơi,
Nghĩ rằng che mắt bịt lời cho xong.
Mười năm giữ trẻ riêng phòng,
Ngờ đâu rằng suốt cả vùng đã nghi.
Đó đây người chuyện thầm thì,
Mỉa mai quyền lực khinh khi sang giầu.
Miệng đời hồ dễ bịt đâu,
Gió bay đã thoảng lắm câu nát lòng.
Vào ra nghe nỗi sượng sung,
Kiêu căng giảm thú, đỉnh chung sinh nhàm
Nghĩ mình nặng tội giant ham,
Gây thù đã lắm, buộc oan cũng nhiều.
Phải chăng vì thế quỉ yêu,
Đầu thai báo ứng muôn chiều gớm ganh
Nghĩ thôi khiếp sợ ngọn ngành,
Lo đi van vái đền linh, động thần.
Đến ngày nghe đức thế tôn,
Về hóa duyên tại giữa thôn hạnh đào.
Vội sai ngay mấy tớ hầu,
Mua nhiều phẩm vật để vào lễ hương.
Trái ngon, hoa đẹp cúng dường,
Dâng xong yên trí thênh thang ra về.
Tưởng nhờ uy lực chở che,
Oán xưa, tội cũ tức thì sạch không.
Xe rong ruỗi đến cánh đồng,
Cầu nghiêng bóng suối một dòng nao nao.
Bên dòng có vị tỳ kheo,
Giặt y dưới suối như chiều ráng phai.
Dậm chân đôi ngựa hí dài,
Bên cầu đòi nước dục hoài không đi.
Dừng xe bãi cỏ xanh rì,
Ngựa khát gặp suối lưu ly thỏa lòng.
Chủ nhân bước xuống thong dong.
Tới ngồi nghỉ dưới tàn thông la đà.
Thấy nhà sư giặt cà sa,
Trang nghiêm tướng mạo hiền hòa dung nhan.
Vợ chồng vui đến hỏi han,
Phát tâm xin giặt y vàng cho sư.
Thầy rằng: “ Xin nhận lòng từ,
“ Nhưng áo, như nghiệp Diêm Phù khác chi.
“ Dù ai đại trí, đại bi,
Cũng không thể diệt tham si hộ mình.
Báo duyên như bóng theo hình,
Ác tìm nơi ác, thường tình xưa nay.
Giặt y là phải tự tay,
Sạch nhơ cũng một lòng này do ta”.
Nói rồi sư hóa thân ra,
Cơn mây biến giữa giang hà dòng sâu.
Vợ chồng ngộ lý nhiệm mầu,
Gối quì trên cỏ, lễ đầu dưới hoa.
Tạ ơn thức tỉnh trần sa,
Rồi lên xe chở về nhà sửa sang.
Mở kho thóc, dựng học đường,
Giúp nghèo, cứu khổ, xòm làng được ơn.
Lại đi thỉnh đức Thế Tôn,
Cùng là đại chúng về thôn lễ bầy.
Đạo từ, mong thắm đó đây,
Như mưa trải khắp cỏ cây thuận hòa.
Vừa hôm khai dựng pháp tòa,
Thinh không phơi phới mưa hoa đẹp trời.
Thì con trẻ bỗng mở lời,
Và tai mắt đủ như người thế gian.
Khôi ngô dáng điệu chững chàng,
Sẹo đen, vết xấu biến tan lúc nào.
Mẹ cha vui sướng biết bao,
Đưa con đến trước đài cao lạy mừng,
“ Và nhờ hiền giả A- Nan,
Xin Phật cho biết quả, nhân trẻ này.
Trên tòa thượng khói trầm bay,
Thế Tôn hoan hỉ: “ con đây chính là.
“ Trọng thần tại một triều xưa,
Quốc dân trông cậy đức vua tin dùng.
Bao năm quyền thế vô cùng,
Mà dân đói khổ lại không đoái hoài.
Cố tình che mắt bưng tai,
Yên thân chung đỉnh, mặc ai nhục nhằn.
Kiếp này chịu quả phế nhân,
May nhờ phụ mẫu chuyển dần nghiệp chung”.
Nghe xong trẻ bỗng sáng lòng,
Chắp tay cung kính thưa cùng mẹ cha.
Con mang ơn nặng sinh ra,
Lại nuôi mười mấy năm đà cực thay.
Bây giờ con mới tỏ hay,
Tội kia đã được đức này gột cho.
Mẹ cha tinh tiến đường tu,
Con xin sám hối đền bù ơn sâu.
Duyên may sớm gặp đạo mầu,
Mở đường giải thoát, vượt cầu tham mê.
Dốc lòng theo hướng trí bi,
Chim hồng cất cánh luyến gì phù vân.
Cúi đầu xin đấng song thân,
Cho con rời gót, theo chân đại hùng”.
Mẹ cha nhỏ lệ vui mừng,
Chắp tay hướng lễ lên từng đài cao.
Tâm thành lời đẹp xiết bao,
Gió thơm chuyển tới mây đào giọng vui.
Gần xa khắp cả những ai,
Nơi nơi nhuần thắm đạo mầu,
Kinh hiền chép mấy dòng châu khuyến người.

TRIỆU CÁT TƯỜNG

Ngày xưa trên bến hoa tươi,
Có ông lái khoát áo tơi đưa thuyền.
Kẻ sang người tới hai miền,
Một sào đẩy nguyệt, đôi triền sông mây.
Chiều kia trong chuyến đò đầy,
Có bà trưởng giả thôn tây đi cùng,
Con thơ ôm bế trong lòng,
Đứa trai mắt sáng da hồng môi tươi.
Hầu theo có bốn năm người,
Giỏ quà, chiếu cạp trải ngồi đò qua.
Lái ông đã biết rõ nhà,
Tường cao mái rộng, đại gia tiếng đồn.
Lại từ thiện nhất xóm thôn,
Giúp người cơ cực tâm hồn đẹp thay.
Hiếm hoi được một trai đây,
Nưng như nưng trứng, hứng tầy hứng hoa.
Sớm nay đi viếng ngoại gia,
Trở về vừa kịp chuyến đò chiều đông.
Nhổ sào thuyền tới giữa sông,
Bỗng đây mây cuộn cơn dông kéo về.
Gió gầm như sảng như mê,
Dập dềnh ngọn nước bốn bề sóng reo.
Mặc cho kẻ chống người chèo,
Một cơn gió bỗng xoay chiều cuộn phăng.
Thuyền như ngọn lá thu vàng,
Xoáy trong gió mạnh dưới hàng sóng cao.
Rồi chìm lặng dưới sông sâu,
Mặt sông còn lại một màu nhạt đen.
Mọi người gối sóng bơi lên,
Hài nhi đâu nữa trong triền sóng say.
Chỉ bà mẹ ngất lịm đây,
Nhờ ông lái cứu khỏi tay thủy thần.
Tỉnh ra đau xót muôn phần,
Bà toan nhào xuống sóng gầm mấy phen.
Chịu sao thấu nỗi thảm phiền,
Theo con về chốn cửa tuyền cho xong.
Gia nhân hoảng hốt vô cùng
Cố công ngăn giữ hết lòng khuyên can.
Bãi chiều cát nỗi mênh mang,
Hung tin khiến cả xóm làng ngẩn ngơ.
Rộn ràng già trẻ kéo ra,
Nhìn theo sóng cuộn biết là hỏi đâu.
Xót xa, ngồi lại âu sầu,
Bên sông thắp nén hương cầu giải oan.
Sớm mai chợt một khách thương,
Qua làng kể chuyện lạ thường xiết bao.
Tại thôn dưới khúc sông đào,
Tối qua cá lớn mắc vào lưới vây.
Khênh về vội mỗ tươi ngay,
Thì trong ruột cá lạ thay có người.
Hai nhi thoi thóp chút hơi,
Được đem cấp cứu một hồi tỉnh ra.
Người nghe thấy chuyện sững sờ.
Vội vàng đi báo cho nhà mất con.
Mẹ cha chưa hẳn hoàng hồn,
Nhưng liền theo khách tới thôn cuối vùng.
Ruột gan như nấu như nung,
Chân đi tựa chạy mà lòng thấy lâu.
Tới nhà vội bước vào mau,
Gặp con tưởng giấc mộng đâu lạ lung.
Ôm con nước mắt tuôn dòng,
Thực đây, mừng thực, nỗi mừng hồi sinh.
Khóc thôi quì gối chân thành,
Tạ ơn người đã phước lành cứu cho.
Chủ nhân cũng vốn hiền từ,
Vội nâng khách dậy, xin là: “ không nên…
“Ân gì đây chỉ là duyên,
Kiếp xưa hẳn đã có nguyền với nhau.
“ Nên giờ gặp tự dòng sâu,
Dám xin nhận tiếng đỡ đầu nên chăng?
“ Chúng tôi sầu nỗi muộn mằn,
Nếu được nghĩa tử, coi bằng ngọc châu”.
Nghe ra ý hợp tâm đầu,
Cười vui chủ khách trao câu đậm đà.
Rồi lo sửa, lễ dâng hoa,
Kết giao một trẻ hai nhà quý thương.
Chăm nuôi bé Triệu Cát Tường,
Mai sau dòng dõi khói hương cùng nhờ.
Êm đềm ngày chuyển tháng qua,
Trường giang đắp nổi phù sa bao lần.
Cát Tường đến tuổi thành nhân,
Càng khôi ngô dáng, càng văn võ tài.
Đã lòng hiếu để đôi nơi,
Lại thương mến cả mọi người thân sơ.
Yêu từ ngọn cỏ đài hoa,
Mến từ sâu kiến cùng là chim muông.
Song thân hả dạ vô vàn,
Hai nhà bàn liệu tính đường nhân duyên.
Có nàng khuê cát dáng tiên,
Tuổi vừa chanh cốm tính hiền như thơ.
Hai nơi cha mẹ đều ưa,
Nhưng con thì lai chối từ quyết không.
Chàng thưa: ‘Xin hãy mở lòng,
Buộc chi thân trẻ tơ hồng quẩn quanh.
“ Lối mòn phú quý cạnh tranh,
Sao bằng đường rộng tung hoành vị tha.
“ Con xem khắp chốn người ta,
Niềm đau nổi khổ thực là lắm thay.
“ Nên chưa muốn để tháng ngày,
Vợ xinh, con đẹp vui vầy thú riêng”.
Một hôm nghe nói gần miền,
Thế Tôn vừa tới hóa duyên độ người.
Chàng đưa bạn hữu đến nơi,
Thấy Phật thiền định trên đồi hoa sim.
Là tan ngay hết ưu phiền,
Rồi chợt nghe giữa cõi im lạ lung.
Tiếng nào nổi giữa hư không,
Như con gió mạnh phá tung mây mù.
Tiếng nào vong tự kiếp xưa,
Như chuông gióng giả vượt bờ chiêm bao.
Tiếng nào vó ngựa tung cao,
Như xô ải hận tiến vào thành hoa.
Tiếng nào tiếng chẳng thiết tha,
Chàng quì gối trước Phật đà an nhiên.
Cảm theo công đức vô biên,
Rưng rưng lệ xuống chân hiền Như Lai.
Thế Tôn bảo: “ Suối thiên thai,
Chẩy về gội hết u hoài thế gian.
“ Chín mươi mốt kiếp trần hoàng,
Lệ đem góp lại muôn hàng sóng cao.
“ Lênh đênh mặt biển ba đào,
Thân chìm trong lệ ai nào dìm thân.
“ Thì nay tuôn hết một lần,
Bao nhiêu mây nổi phù trần sạch trôi.
“ Tâm lao cửa kín ba đời,
Bây giờ hóa hiện như trời ngọc châu”.
Đưa tay Phật nhẹ xoa đầu,
Cát Tường thân bỗng hóa màu bạch quang.
Lúc này hiền giả A Nan,
Đứng hầu dưới cội hoa vàng trình lên:
“ Xin cho được biết phúc duyên,
Sao vừa gặp Phật tâm liền bừng khai?”
Rằng : “ Vô lượng kiếp cách đây,
Tỳ Bà Thi Phật ra đời độ dân.
Đồi xa có một thi nhân,
Vào thu ướp trái, đón xuân ươm hồng.
Buổi nhàn dạo cảnh rừng trong,
Thấy Phật bên suối bồng bềnh y tơ.
Đêm về thắp nến làm thơ,
Ngợi ca hạnh Phật bên bờ chiêm bao.
Thơ vang khắp chốn thôn đào,
Lan ra châu quận, truyền vào thành xa.
Tươi vuờn đạo hạnh, đẹp nhà huệ tâm.
Xưa hằng tích đức tu nhân,
Kiếp này hiểm nạn trăm phần cũng qua.
Cứu người thương vật lòng hòa trí bi.
Kiếp này vóc dáng phương phi,
Thông minh phú quí ai bì được sao.
Lại giờ như cánh chim co,
Vượt con huyễn mộng nhập vào từ quang.
Áng thơ bay giữa vô vàn,
Nhủ người trong cõi trần hoàn tín tu.
Ngàn nay thêm đẹp ngàn xưa,
Mỗi trang thơ mỗi đài hoa cúng dường.
Ngâm lên là giải thoát hương,
Trần gian lưu áng văn chương tuyệt vời.
Khiến cho địa ngục ba đời,
Hóa thành tịnh độ trong lời diệu thanh”.

NĂM TRĂM NGƯỜI NGHÈ0

Ngày xưa trong rừng mơ xanh,
Có chim tụng trái trên cành thêu hoa.
Là vuờn thái tử Kỳ Đà,
Cúng dường đức Phật đôi nhà cỏ thơm.
Mây từ vân tập bốn phương,
Khói hồ gợn tiếng trầm chuông gió chiều.
Từ lâu có bọn dân nghèo,
Năm trăm người vẫn hầu theo Phật từ.
Sống nhờ tín thí thừa dư,
Quẩn quanh bên Phật sớm trưa chẳng dời.
Chiều kia kéo đến hầu Người,
Rằng: “ Thầy như thể mặt trời sáng soi.
“ Chúng con như cỏ ven đồi,
Như bèo mặt nước nổi trôi mấy dòng.
Nhờ ơn tựa dưới vừng hồng,
Khiến xuân hoa nở hạ nồng trái ương.
“ Giờ xin cậy đấng pháp vương,
Độ cho vượt thoát mê trường tham si..
Phật ngồi nở nụ từ bi,
Truyền cho thập giới tam qui rõ ràng.
Áo xưa rách rưới nghèo nàn,
Bỗng dưng hóa hiện y vàng cà sa.
Lòng tươi như cánh xuân hoa,
Năm trăm người tạ Phật Đà xiết bao.
Rồi tìm rừng thẳm núi cao,
Động xanh thiền lự, suối đào quán mây.
Nghe tin, người khắp đó đây,
Đều chê: “ Phật độ ăn mày gớm sao.
Chẳng phân kẻ thấp người cao,
Bần hèn so với sang giàu chẳng hơn.
Từ nay tín thí cúng dường,
Chỉ dành dâng đức pháp vương trời người.
Của đâu cho hạng trây lười,
Dựa vào Phật pháp mong đời ấm no…”
Thôi thì lời nhỏ tiếng to,
Bới lông tìm vết vu cho đủ điều.
Làm năm trăm vị tăng nghèo;
Tủi thân, xét phận thấy điều xấu xa.
Bảo nhau về trước pháp tòa,
Quì thưa: “ Vì chuyện bẩn nhà Như Lai.
“ Chúng con xin lại về đời,
Dám đâu gai mắt những người tín tâm”.
Phật rằng: “ Pháp tựa hư không,
“ Ra vào ai cũng một lòng như ai.
Pháp như lửa lớn mặt trời,
Cháy tan cả nghiệp ba đời tham si.
Pháp như thanh tịnh lưu ly,
Sạch băng trần nghiệp kể gì hèn sang.
Bước chân tám nẻo đường vàng,
Trí bi làm sức phục hàng tham mê.
Nhân gian mát cội Bồ Đề,
Lời hư giả đó muôn bề mặc ai”.
Năm trăm vị lạy tạ người,
Bước chân tản mắc khắp đồi, núi, khe.
Quyết lòng tu vượt sông mê,
Chẳng bao lâu đã Bồ Đề tâm khai.
Một hôm thái tử cúng trai,
Thỉnh riêng Phật với một vài thánh tăng.
Trước khi Phật tới lễ đàn,
Bảo năm trăm vị bay sang cõi trời.
Hái ngay mươi thùng đào tươi,
Đem về bố thí cho người tín gia.
Lầu riêng thái tử Kỳ Đà,
Cúng dường tăng Phật trên tòa ngọc châu.
Bỗng dưng có áng mây mầu,
Giữa hư không bắc một cầu diệu quang.
Trông lên thấp thoáng y vàng,
Năm trăm vị xuống đàn tràng trầm bay.
Đứng nhìn dung mạo ngất ngây,
Thiền oai như thể hương bay rừng đán,
Thưa: “ Tăng chúng ở đâu sang,
“ Thần thông vượt ánh từ quang giữa trời.
Lại cầm hoa báu đào tươi”,
Phật rằng: “ Chúng đó phải người đâu xa.
Thủa xưa nương bóng Phật Đà,
Bần hàn không ruộng không nhà xin ăn”.
Lệ mừng thái tử khôn ngăn,
Khấn đầu dưới Phật ăn năn tội mình.
Đã coi giới đó đáng khinh,
Biết đâu nghèo mạt mà tinh tiến thường.
Hầm than vẫn dấu kim cương,
Đất sâu vẫn lẫn vàng ròng nguyên khôi.
Phật tâm bình đẳng nơi người,
Con sâu cái kiến không ngoài chân như.
Hối xong, thái tử hỏi thưa:
“ Tiền duyên từ thủa xa xưa thế nào.
Sinh ra trong chốn dân nghèo,
Lầm than đói khổ muôn chiều thảm thương.
Khi cầu nương bóng pháp vương,
Lại nên biến hóa khác thường oai nghi.
Phật rằng: “ Chẳng dễ tư nghì,
Thường là nhân quả khác gì trả vay.
“ Trừ khi Bồ Tát cứu đời,
Tạo nhân duyên mới, chuyển dời nghiệp chung.
“ Bấy giờ nhân quả mới xong,
Niết Bàn lập giữa trần hồng đổi thay.
Nguyên xưa cũng tại châu này,
Có rừng mây tía trùng vây động hồng.
Hai ngàn ẩn sĩ tu non,
Tọa thiền đỉnh ngọn chon von sương mù.
Nguyện chung hóa cõi Diêm Phù,
Mưa hòa gió thuận bốn mùa tốt tươi.
Trong thôn kia có một người,
Phú gia địch quốc đời đời tu nhân.
Với lòng hộ nước hộ dân,
Khuôn trì Tam Bảo một thân xá nào.
Vườn riêng nghìn mẫu mai đào,
Đến mùa kiết hạ tìm vào động khe.
Thỉnh tăng chúng khắp nơi về,
Cúng dường tứ sự mọi bề kính tôn.
Vườn riêng thành chốn thiền môn,
Nhân gian thành cõi đạo trường nghiêm trang.
Tuyển dùng trong bọn gia nhân,
Năm trăm người để quét sân hầu trà.
Cùng lo thắp nén thay hoa,
Hoặc khi trai ngọ pháp tòa khói hương.
Năm trăm người đó quen đường,
Hầu nhà sang trọng coi thường chúng tăng.
Cho nên trong lúc nói năng,
Hay chen câu chuyện lăng nhăng để cười.
Như khi quét dọn hầu người,
Tỏ ra lơ đãng vừa chơi vừa làm.
Biết căn cơ kẻ xưa phàm,
Hai nghìn tu sĩ chẳng mang lòng phiền.
Cuối mùa dục bước non tiên,
Chư tăng giải hạ bên triền non mai.
Hào quang chiếu khắp cõi trời,
Bốn phương đất trổ hoa tươi cúng dường.
Gió nào thổi tự rừng hương,
Thần tiên cũng tự mười phương hiện về.
Lưng trời hạc kết tàn che,
Đài sen cao tỏa bốn bề diệu âm.
Khiến người tỉnh giấc mê lầm,
Hốt nhiên ngộ nhập chân tâm diệu vời.
Nghĩ xưa tá ý thô lời,
Năm trăm kẻ nọ tới nơi đạo trường.
Chí thành quì dưới đài hương,
Ăn năn sám hối trăm đường thiết tha.
Nguyện rằng: “ Trong kiếp trần sa,
Đem thân theo dấu Phật Đà tịnh tu.
“ Nguyện lưu chính pháp đền bù.
Chong đèn bi trí cho dù bể dâu”.
Thế rồi theo đúng nguyện cầu,
Năm trăm người đó trải bao kiếp trần.
Dù cho nghèo khổ dại đần,
Dù khi sinh chốn thế thần quyền danh.
Cũng đều giữ được tâm thành,
Hướng về Phật đạo nhân lành thêm ra.
Kiếp này lại gặp Phật Đà.
Tiền thân là bực phú gia thuở nào.
Gặp bầy hạc lại vút cao,
Sắc không không sắc ra vào ngại chi.
Áo gai là giải thoát y,
Thân nghèo là ngọc lưu ly sáng ngời.
Ngục sâu lại hóa cung trời,
Ngu si lại hiện diệu vời chân tâm.
Nghe xong từ chúng vui mừng,
Khuyên nhau thành nội thôn rừng tịnh tu.
Bể cồn đá động âm u,
Tiếng chuông giải thoát nghìn tu trầm từ.

BỐ THÍ ĐẦU

Thửa xưa nước Tỳ Xá Ly,
Đất thơm in dấu từ bi Phật Đà.
Có rừng cổ thụ Ta La,
Một chiều, chim rộn trong hoa hát mừng.
Tay Phật cầm nhánh lan rừng,
Quay sang phía hữu bảo rằng: A-Nan!
“Đạo như ta khói chiên đàn;
Mười phương pháp giới tỉnh hàng nhân thiên.
Gỗ tàn cho khói trầm lên,
Thế gian gieo một thiện duyên cũng là.
Thân này nào khác chi hoa,
Đạo như cây quí nở ra bốn mùa.
Hương trời giữa khói sương đua,
Hoa kia rồi cũng một mùa như hoa.
Đây xe pháp giữa ta bà,
Giờ sao mưa gió nghe ra rã rời.
Dù Như Lai trụ muôn đời,
Hay là một kiếp diệu vời khác chi.
A-Nan chẳng hiểu ý gì,
Phật truyền đến gốc cây kia trầm từ.
Bấy giờ trong cõi không hư,
Mây đen cuồn cuộn tựa như biển trùng.
Hiện ra ma vương Ba Tuần,
Dưới hoa quì lạy muôn phần kính tôn.
Rồi thưa: “ Trong cõi bụi vàng.
Thế Tôn đã độ vô vàn nhân thiên.
Bến mê đã lặng sóng phiền,
Sen thơm nở giữa khởi duyên trùng trùng.
Dù cho vô tận vô cùng,
Đạo ngài như vẳng hồng chung tiếng vàng.
Giờ xin thỉnh nhập Niết Bàn”,
Phật đưa một nắm bụi tàn trên tay.
Bụi này hay cõi đất đây,
Đâu nhiều, đâu ít hỏi ngay Ba Tuần.
Ma rằng: “ Chút gợn phù vân,
Cõi này đất hẳn muôn phần nhiều hơn”.
Nhẹ nhàng Phật nối lời luôn,
“Vậy người mê muội trong cơn khác nào.
Luân hồi khổ ải lao đao,
Trôi lăn bể dục còn bao nhiêu người”.
Ma rằng: ‘ Thiện ác mây trôi,
“ Ngộ mê như ngọn sóng dời biển đêm”.
Phật cười nở nụ nhiệm huyền,
Khen ma: “ Ngươi chừng đạo hiền mốt mai.
“ Còn ta ba tháng nữa thôi,
Niết Bàn sẽ nhập như lời ngươi mong”.
Tạ lui, chúa quỉ ghi lòng,
Lời ban di chúc, trần hồng khó hay.
A-Nan thiếp ngủ giấc ngày,
Nằm mơ thấy một bóng cây rợp trời.
Trái hoa năm sắc tuyệt vời,
Bỗng dưng cây hóa mặt trời chói chang.
Mười phương gội áng mây vàng,
Rừng cây nội cỏ nở ngàn hoa thơm.
A-Nan tỉnh giấc mộng vương,
Nghĩ rằng bóng mát y nương bấy ngày.
Rồi ra cây hóa mặt trời,
Phương phương hoa cỏ hết nơi an bình.
Là khi mình phải cậy mình,
Đuốc hồng soi giữa vô minh bóng dầy.
Thôi, ta sắp chẳng còn thầy,
Dựa nương đức độ như ngày xa xưa.
Nghĩ rồi nước mắt như mưa,
Vội vàng tìm đến trình thưa Phật từ.
Những điều vừa thấy trong mơ,
Khiến lòng một tínj mười ngờ lắm thay.
Phật rằng: “ Sinh, diệt xưa nay,
Ba tuần trăng nữa đến ngày đó thôi”.
Nghe xong tăng chúng rụng rời,
Bóng cây đã hóa mặt trời tự tâm.
Phật khuyển: “ Pháp giới vô thường,
Như Lai đã chỉ con đường vào ra.
Có ta hay chẳng có ta,
Tự tâm thanh tịnh vẫn là chốn nương.
Giới trai là của tư lương,
Trí bi là cửa chân thường tiến tu.
Vượt trăm ải mộng diêm phù,
Bừng soi trí huệ cho dù không ta.
Dù ta thường trụ ta bà,
Mải mê tham chấp cũng là như không.
Việc nên ta đã làm xong,
Lời nên ta cũng tận lòng mở khai.
Chân tâm thường trụ Như Lai,
Không đi, không lại, không ngoài, không trong”.
Ngài Xá Lợi Phất than rằng:
“Ôi thôi! Mắt sáng thường hằng thế gian.
Bây giờ ngài nhập Niết Bàn,
Chúng sinh như thể con đàn cậy ai.
Con xin diệt trước Như Lai,
Chẳng đành tâm thấy bóng ngài hóa thân”.
Nói rồi quanh Phật ba lần,
Quì nâng chân ngọc để lên đỉnh đầu.
Trang nghiêm từ biệt giây lâu,
Trở ra hạt nội rầu rầu cỏ xanh.
Ông tìm, về La Duyệt Thành,
Chốn quê, nở đóa hoa lành nơi đây.
Tin ông nhập diệt lan ngay,
Vua A Xà Thế lòng đầy xót xa.
Vội vàng lên thẳng loan xa,
Cùng đoàn hộ giá tới nhà tranh quê.
Vua than: “ Ngài nở vội về,
“ Lấy ai đem đạo Bồ Đề hóa khai!”
Rồi vua lệ nóng tuôn dài,
Khiến Xá Lợi Phất thấy bùi ngùi thương,
Ông khuyên: “ Muôn vật vô thường,
“ Sớm làm mây nổi chiều vương mưa dài.
Xá gì sinh tử cõi đời,
Ngại gì một nắm xương dời dưới khe.
Thiện duyên vun cội bồ đề,
Kiếp như cát nổi đi về độ tha.
Thiện căn người lại gặp ta,
Pháp duyên hóa độ ta bà chuyển mê.
Ngoài kia thiện tín đồn về,
Tin thầy sắp diệt não nề lòng ai.
Than rằng: ngọc sáng trời người,
Ôi gươm lửa cắt ba đời vô minh.
Ôi sen nở giữa đầm xanh,
Ôi chim giục sáng trên cành đông ba.
Nhờ thầy đại chúng an hòa,
Bấy lâu, giờ lại xót xa tiễn người.
Đuốc trầm nghi ngút ùn hơi,
Trăng đêm man mác mây dời tàn sao.
Ông nhập thiền giữa đài cao,
Nội xa cỏ quí rì rào lá nghiêng.
Người lên từng cõi trời thiền,
Như chim tiên hạc qua miền tuyết hoa.
Trên cao mây hiện sắc tòa,
Sao đan tàn ngọc, khánh hòa gió bay.
Lời tiên vọng giữa trời mây,
Ca tụng hiền giả đức dầy, trí cao.
Ứng cơ chuyển diễn pháp mầu,
Diệu thanh như thể suối mau mau dồn.
Biện tài như nước trời tuôn,
Giới như đại tướng phá cường địch mê.
Theo Như Lai mở Bồ Đề,
Pháp luân như ngọc pha lê tuyệt vời.
Chư tiên tán tụng dứt lời,
Nhục thân la hán vẫn ngồi an nhiên.
Giác linh thăng hóa cõi trên,
Trong khi đệ tử dưới miền nhớ thương.
Đây yên lặng, nụ cười buồn,
Kia ngồi than khóc bên đường như mưa.
Lại nhiều kẻ đứng trầm tư,
Tay dâng hoa trắng tựa bờ xuân mai.
Thôn trong cho đến thành ngoài,
Chim, lồng cá chậu được người phóng sinh.
Phương đông vừa dựng bình minh.
Một làn mây đỏ hòa bình cỗ xe.
Từ xa đem lửa bay về,
Kết thành tháp lửa bốn bề khói thơm.
Tiếng kinh thơ tụng bên đường,
Hoa như mưa lấp than hường dần tan.
Hiện ra xá lợi hồng vàng,
Tựa kho ngọc báu bên đàng tỏ soi.
Lại nghe trên đỉnh từng trời,
Tiếng đàn ảo diệu chen lời hát ca.
Giây lâu, trời lặng như xưa.
Vua A Xà Thế bấy giờ bình thân.
Nhặt, chia xá lợi nhiều phần,
Truyền đem xây cất mấy lần tháp cao.
Lại truyền định những nơi nào,
Dựng bia, khắc chữ, chép sao công người.
Thả tù, bố thí nơi nơi,
Gọi là tưởng niệm cuộc đời thánh tăng.
Chuyện này do một khách thương,
Đem về bạch Phật tại rừng Ta La.
A-Nan khi đó nghe qua,
Nhớ thương hiền hữu lệ sa vắn dài.
Thế tôn trông thấy mỉm cười,
Giơ tay vẫy đến bên người bảo ban.
Rằng: “ Thánh tăng nhập Niết Bàn,
Pháp thân còn mãi vô vàn thiên thu.
“ Dù cho hoa cỏ diêm phù,
Dù cho khe suối sương mù gió mây.
“ Pháp thân còn đó còn đây,
Giới hương giải thoát tròn đầy nguyệt trong.
“ Nghìn xưa nơi cõi bụi hồng,
Phất từng diệt trước chẳng lòng nhìn ta”.
A-Nan vội chắp tay hoa,
Dưới thềm thỉnh pháp duyên là trước sau.
Phật kể: “ Xưa kiếp diêm châu;
Nguyệt Quang vua nọ đức giàu trí bi.
Lúa thơm muôn dặm xanh rì,
Thành cung một cõi lưu ly ngọc ngà.
Nọ lầu vàng rực mây tà,
Kia đền hồng ngọc chói lòa nắng mai.
Muôn muôn tụ lạc an vui,
Sông biêng biếc lụa vọng lời đò ca.
Một hôm vua ngự thưởng hoa,
Nghĩ rằng đời khác như là xuân thu.
Nghiệp xưa tích đức hiền tu,
Kiếp này quả báo cho dù tốt tươi.
Phúc duyên cảm đến người người,
Núi sông thành quách ngời ngời vàng châu.
Bây giờ cầu chút duyên sau,
Mở kho bố thí muôn lầu gấm hoa.
Dù cho muôn cõi muôn nhà,
Dù cho khắp chốn ta bà ngại chi.
Tin vua bố thí loan đi,
Nhân dân khắp cõi tìm về tận nơi.
Sớm hôm lần lượt bao người,
Xin tiền, xin vật, như lời hứa ban.
Tiếng truyền oai đức Nguyệt Quang.
Khiến cho muôn nước lâng bang nể vì.
Phương tây có vị vua kia,
Ghét ghen là thói so bì xưa nay.
Càng nghe lòng giận càng đầy,
Liền bàn mật với nhóm bầy tôi thân.
Hỏi ai chước quỉ mưu thần,
Hạ Nguyệt Quang được một lần thị oai.
Có người giáo sĩ mỉm cười,
Nói: “ Xin lấy hẳn đầu người lập công.
Vua nghe như mở tấm lòng,
Hẹn cho hai tháng phải xong việc này.
Việc thành hứa gả con đây,
Chung nhau quyền lợi đủ đầy trị dân.
Vui mừng, giáo sĩ lui chân,
Về non cầu đảo quỉ thần giúp tay.
Hành trang sửa soạn đó đây,
Voi chăng màn gấm đợi ngày kéo sang.
Bấy giờ nước vua Nguyệt Quang,
Nào là chớp giật nào hàng tinh rơi.
Khói sương ùn mấy ngày trời,
Rồi là sao chổi sáng ngời hiện ra.
Quạ đen bay lại bay qua,
Lại thêm dã thú gầm như động rừng.
Hết dân nằm mộng bất tường,
Trống rồng bị thủng, lọng vàng ngã nghiêng.
Lại vua trong giấc nửa đêm,
Nghe như xào xạc ngoài thềm lá rơi.
Trông ra: “ Quỉ xám đương cười,
Tay cầm vương miện trỏ nơi ngai rồng.
Điềm chi, khiến mộng buồn lòng,
Bách quan nghe chuyện vô cùng xốn xang.
Đến hôm, trước cửa thành vàng.
Có người giáo sĩ lân bang xin vào.
Tâu: “ Ngài phát nguyện thanh cao,
Đạo tâm tỏa sáng khác nào thái dương.
“ Nên tôi từ chốn tay phương,
Vượt trăm dặm núi đỉnh sương hướng về.
“ Nghe ngài theo hạnh bồ đề,
Bao phen bố thí chẳng hề tiếc đâu.
“ Nhưng dù ban phát ngọc châu,
Cũng là vật dụng phải đâu khác người.
“ Dám cho đến máu thịt rơi,
Dám đem mạng sống cứu đời mới cao.
“ Nên tôi chẳng ngại xin vào,
Giúp vua tự thắng nêu cao gương hiền.
“ Nhưng vì rất khó cho nên,
Ngài có nhận trước mới xin giải bày”.
Đức vua hoan hỉ chịu ngay,
Dù quên thân mạng lòng này ngại đâu.
Nghe xong đạo sĩ khấu đầu,
Dưới thềm khúm núm thêm câu dối lừa.
“ Mẹ tôi nằm bệnh từ xưa,
Quỉ ma hành hạ thân già đớn đau.
Pháp sư truyền dạy đã lâu,
Như này chữa phải có đầu đế vương.
Như ngài phúc tuệ đôi đường,
Thì bộ óc chính là phương thuốc thần.
Nói ra, thực rất ngại ngần,
Dẫu rằng đã được minh quân rộng lòng.
Phần tôi kính trọng ngai rồng,
Thay trời trị nước vô cùng lớn lao.
Trần gian dễ thấy ai nào?
Đã ngôi báu lại đức cao như ngài
Nhưng phần xót mẫu thân tôi,
Tuổi xuân đã chịu suốt thời gian lao.
Đến già lại bệnh khổ sao,
Nghe mẹ rên xiết như bào lòng con.
Nên liền xin lượng núi non.
Bằng không, thân chịu nát mòn cũng cam”.
Vua rằng: “ Người cứ yên tâm,
Đã lời hứa trước tấm thân chẳng nề.
“Đầu ta, ngươi sẽ đem về.
Trừ bịnh ma quỉ, trọn bề dưỡng sinh.
Triều thần sững sốt khiếp kinh,
Vua bố thí cả mạng mìmh nữa sao!
Người băng lên chin bệ cao,
Xin ngài ở lại ngôi cao dân nhờ.
Người thì lý luận trình thưa,
Đem tài hùng biện khuyên vua đủ điều.
Nhưng lòng son vẫn không xiêu,
“ Các khanh thôi chớ buồn nhiều vì ta.
“ Phải đem đức trải gần xa,
“ Không còn vị kỷ mới là độ sinh.
“Nhân gian cần có gương lành,
“Ta xin treo để thức tình người sau.
“Thân này, ví muốn giữ lâu,
“Thì trăm năm cũng qua cầu mà thôi.
“Điện vàng đừng sợ không ngai,
“Con ta lại sẽ nối ngôi trị vì.
“Có chư khanh đó, lo gì,
“Việc dân việc nước mọi bề vẫn yên”
Đại thần có vị tến lên,
Rầu rầu đứng trước vua hiền lạy thưa:
“Thánh hoàng hạnh nguyện độ tha.
Cắt đầu bố thí để mà khuyến dân.
“ Xin tha lỗi kẻ tôi thần,
Chẳng đành ngó thấy mình đồng máu hoen”.
Nói rồi tự móc trái tim,
Bàn tay máu nhuộm dâng lên ngai vàng.
Trăm quan xiết đỗi kinh hoàng,
Dẫu là gan sắt cũng hàng lệ rơi.
Còn vua, di chúc hẳn hoi,
Lại thêm căn dặn đủ lời trước sau.
Rồi cầm gươm tự cắt đầu,
Trao cho giáo sĩ vẫn chầu một bên.
Người này vội vã lên yên,
Trốn đi như thể một tên tội tù.
Bấy giờ khắp cõi diêm phù,
Đất bằng chuyển động vụt vù gió bay.
Thiên cung mấy đỉnh từng trời,
Kim thân Bồ Tát rạng ngời chiếu soi.
Vội vàng thiên chúng nơi nơi,
Trải hoa mười cõi dâng người đại bi.
Mưa thành cát ngọc lưu ly,
Gió thành điệu nhạc muôn vì sao nghiêng.
Hương trầm từ đất bốc lên,
Chim tha mây trải khắp miền hót ca.
Thần dân trồng mấy dặm hoa,
Nguyện cho thần thức vua hòa đại tâm.
Hóa siêu trong cõi mê lầm,
Như hoa nở giữa sơn lâm mấy trùng.
Trong khi giáo sĩ băng rừng,
Đem đầu vua trốn trên lưng ngựa dài.
Phóng đi nào biết đêm ngày,
Lạ sao đầu nọ tỏa hoài hương thơm.
Khi về tới được biên cương,
Kiệu son sẵn đợi thẳng đường tiến kinh.
Tin loan khắp chốn khắp thành,
Khiến dân nước đó giật mình ngẩn ngơ.
Bấy giờ ở chốn cung vua,
Mừng như thắng trận treo cờ kết bông.
Dựng đài cao giữa chợ đông,
Để bêu thủ cấp cho công chúng nhìn.
Sớm mai vừa nhạt bóng đêm,
Dân từ khắp nước đã chen nhau về.
Nóng xem cho được đầu kia,
Của người hiền đức bốn bề tiếng vang.
Trên đài cao dưới nắng vàng,
Hộp sơn vừa mở thoảng vàng hương bay.
Nhưng sao thật lạ lung thay,
Đầu vừa khỏi hộp, hóa ngay sen hường.
Hào quang chiếu rực mười phương,
Gió thơm man mác mây buông tàn đào.
Lại nghe đàn sáo ngạt ngào,
Âm thanh nhẹ tự trời cao thoảng về.
Người người khai ngộ lìa mê,
Chắp tay cung kính, bốn bề lâng lâng.
Nguyệt Quang xưa bậc minh quân,
Đức vua nhiều kiếp tiền thân góp thành.
Vị quan tự móc tim mình,
Là Xá Lợi Phất tu hành kiếp nay.
Suốt trong sáu cõi đổi thay,
Bao lần thị hiện đủ đầy cùng ta.
Dấu chân in khắp ta bà,
Bây giờ rũ nắm trần sa giữa dòng.
Như chim thần vút qua sông,
Tiếng kêu khiến nở vừng hồng đỉnh xa.
Thuyết xong Phật dạo đường hoa,
Bước yên dưới liễu la đà nắng bay.

BỐ THÍ MẮT

Ngày xưa, trong một rừng cây,
Bên thành Xá Vệ, dưới mây phớt hường.
Chim vi vút hót trong sương,
Hoa man mác nở bên đường mát tươi.
Hương bay mấy dặm tơ trời,
Nhà tranh đôi nếp thoảng hơi tịnh trầm.
Tiếng vàng giữa chốn tuyền lâm,
Như xuân suối chảy như đầm thu hơi.
Liễu buông quanh một rừng người,
Như chim từ bốn phương trời họp đây.
Trên nền cỏ mướt nhung say,
Thiện nam, tín nữ, quanh thầy trầm tư.
Phật ngồi khoác tấm y tơ,
Như hoàng cúc nở mấy bờ nắng mai.
Tay như lan nụ búp dài,
Lời như mưa động trên đài sen thơm.
Pháp mầu như ánh triêu dương,
Khiến người bừng thức giấc trường mộng say.
Có đoàn về chậm sáng nay,
Vì ngang đường núi gặp đây một người.
Mù lòa từ lúc ra đời,
Nên không biết cảnh đất trời là chi.
Khi nghe nhộn nhịp tiếng đi,
Bước như sóng cuộn dồn về một phương.
Lắng tai thấy vẻ khác thường,
Anh liền men tới bên đường hỏi thăm.
Người cho biết có Thế Tôn,
Vân du mấy ngả núi non mới về.
Đạo ngài khai ngộ chuyển mê,
Như xuân mầu nhiệm thoảng về muôn hoa.
Khiến cho khắp cõi ta bà,
Khiến cho vô lượng trần sa trở mình.
Anh rằng: “ Nghe được âm thinh,
“ Thì tôi có thể biết minh chúa nào.
Hoặc tiếng như sấm trời cao,
Thì tâm trí hẳn sâu mầu vô song.
Hoặc tiếng như dục trống đồng.
Biện tài như thể nghìn sông sóng dồn.
Hoặc tiếng trầm ấm như đờn,
Thì thanh cao hẳn đáng tôn thánh hiền.
Hoặc tiếng như trời Phạm Thiên.
Người này làm chuyển luân vương đời đời.
Phúc cao trí huệ tuyệt vời,
Hoặc làm Phật khắp trời người ngưỡng trông.
Xin bác làm phúc vui lòng,
Dẫn tôi theo đến rừng trong, để tường.
Nghe âm thanh sẽ rõ ràng,
Biết là vị ấy giả chân thế nào”.
Nhập đoàn bước thấp bước cao,
Tới nơi, ngừng cạnh gốc đào cùng nhau.
Anh mù lắng tiếng nhiệm mầu,
Khánh đâu giải thoát, chuông đâu trầm từ.
Rõ ràng âm phạm như như,
Lòng anh mừng quá mắt mù sáng ngay.
Trông ra hoa lá muôn cây.
Trời thăm thẳm lụa người vây điệp trùng.
Trên nền cỏ mướt như nhung,
Thế Tôn lồ lộ giữa vầng hòa quang.
Nắng mai rực sắc y vàng,
Khoác trên tăng chúng nghiêm trang sum vầy.
Đoàn người dắt anh tới đây,
Bỗng thấy đôi mắt sáng đầy tự nhiên.
Vội vàng xúm hỏi huyên thiên,
Anh rằng: “ Pháp Phật nhiệm huyền biết bao.
“ Từ âm vừa lắng tiếng vào,
Biến tan ý xấu, rạt rào tình thương…”
Nói thôi anh vội tìm đường,
Xen vào tận chổ Thế Tôn đương ngồi.
Cánh hoa phơi phới quanh người,
Hương bay dìu dịu một trời hân hoan.
Phật đua năm ngón tay thon,
Vẫy anh cho tới ngồi luôn cạnh ngài.
Như cha hiền đón con trai,
Bao năm biền biệt phương trời cách xa.
Anh nghe lòng nổi thiết tha,
Khiến rưng rưng lệ chan hòa niềm thương
Trí sao vụt sáng như gương,
Thân sao chợt tỏa mùi hương chiên đàn.
Như chim bỏ nội hoa vàng,
Cánh bay còn ướp đôi làng phần thơm.
Dưới trời lãng đãng mây vương,
A-Nan ngẫm chuyện lạ thường xưa nay.
Thân phàm lại có hương bay,
Mắt đui lại bỗng sáng ngay rõ ràng?
Phật cười hiểu ý A-Nan,
Muốn nghe biết rõ tiền thân người mù.
Liền hoan hỷ kể ngay cho,
Một chuyện trong những kiếp xưa của Ngài.
Thuở ấy có bực anh tài,
Làm vua một nước quyền oai lẫy lừng.
Đức cao thu phục quỉ thần,
Ải biên bền vững nhân dân phú cường.
Trong khi đó vua láng giềng,
Tháng ngày chỉ mãi hoang đàng mà thôi.
Khi săn bắn, lúc ăn chơi,
Việc dân, việc nước buông lơi, thiết gì!
Ưa dùng những bạn gian phi,
Chuyên quyền bóc lột bốn bề oán kêu.
Nhân dân cơ cực đủ điều,
Mồ hôi nước mắt bao nhiêu cho vừa.
Hễ ai lên tiếng can vua.
Là bị đầy đọa ngục tù khổ thân!
Hiền lương có vị đại thần,
Vốn nghe danh đức minh quân nước ngoài.
Bèn tìm cách trốn đến nơi,
Trình bày quốc sự xin ngài thương cho.
Giúp quân về diệt gian nô,
Cùng là bạo chúa để mà cứu dân.
Hiền vương nghe kể xa gần,
Thương người nước đó nhục nhằn đã lâu.
Giờ đây tìm đến mong cầu,
Xin trừ gian ác lẽ đâu chối từ.
Ví tu suốt kiếp trần sa,
Chẳng bằng cứu khổ người qua ách nàn.
Dù nơi địa ngục cơ hàn,
Còn nơi ở chốn Niết Bàn an vui.
Quên thân mạng để giúp người,
Đó là Bồ Tát đời đời hóa thân.
Nghĩ rồi truyền xuống quan quân,
Dựng cờ chính nghĩa mây vần sóng sôi.
Hẹn khi diệt bạo tàn rồi,
Tìm người hiền đức dựng ngôi thái bình.
Còn ta, sẽ rút hết binh,
Dù đền ơn, nhượng mấy thành, chẳng ham.
cốt sao trừ được ác gian,
Cứu người thoát khỏi lầm than bạo quyền.
Thế là trống dục vang rền,
Ngựa voi chuyển bước gươm trên chói lòa.
Mạnh như bão nổi mưa sa,
Ải biên muônj dặm tràn qua một ngày.
Địch nghe tim vỡ hồn bay,
Nhân dân nổi dậy phá ngay thành trì.
Hôn quân cùng bọn gian phi,
Bị dân bắt giữ hết bề đảo điên.
Vua truyền đóng lại ải biên,
Giúp tìm dân chúa đức hiền trị dân.
Xong rồi xuống lệnh hồi quân,
Oai danh đại nghĩa vang rần tây đông.
Trở về nước, lại thong dong,
Một chiều vua dạo cánh đồng ngó hoa.
Nhìn sông nước cuộn bao la,
Sớm mây sắc trắng chiều qua sắc vàng.
Sóng xuôi điệp điệp hàng hàng,
Bờ cao sóng dập âm vang thì thào.
Lớp này tan để lớp sau,
Vua thầm nghĩ khác chi đâu kiếp người.
Nghiệp nhân quả báo khôn dời,
Tử sinh một chuỗi sương rơi ngọn đào.
Sóng tàn nước có đi đâu,
Lớp này tan để làm cầu lớp sau.
Ngàn năm mãi tiếng rì rào,
Thân ta nào cũng khác nào sóng kia.
Chẳng mau vượt khỏi sông mê,
Xá chi giả tướng đi về sắc không.
Bỗng dưng vua gặp ngoài đồng,
Lều tranh một mái vẻ trông tiêu điều.
Gió mưa vách rã cột xiêu,
Lách lau nắng giãi lối rẽ vào,
Nhà trong một trẻ xanh xao mù lòa.
Mồ côi không mẹ không cha,
Ngày lần vào mấy xóm nhà xin ăn.
Gian nan đói khổ muôn phần,
Tháng năm lủi thủi một thân tật nguyền.
Vua nghe lặng nghĩ triền miên,
Dân còn đói khổ mà trên hay nào.
Nghĩ mình chót vót ngôi cao,
Hoàng cung lộng lẫy ra vào ngựa xe.
Còn người đói rét mù lòa,
Bọt bèo kiếp sống lê la phố phường.
Lều tranh một mái nắng sương,
Kiếp người thôi một dặm đường đớn đau.
Thế mà vua có hay đâu,
Trông ra chỉ thấy vàng châu quanh người.
Giận thân mắt sáng mà đui!
Liền tự móc một con ngươi của mình.
Nguyện rằng: “ Cứu khổ chúng sinh,
Thề trừ cội rễ vô minh sâu dầy.
“ Thề làm lợi lạc người người,
Trần gian còn một nụ cười hoan ca.
“ Nguyện này nếu được như là,
Thì mắt trẻ nọ hóa ra sáng ngời”.
Lời vua chuyển đất rung trời,
Chiều hôm chợt hiện mặt trời bình minh.
Chim mười phương hợp trên cành,
Tha hoa cúng trải hạnh lành đức vua.
Lạ thay đứa trẻ đang mù,
Bỗng dưng như mắt chim thu tỏ ngời.
Trông ra mặt đất chân trời,
Lúa thơm phương đất, hoa roi ngọn cành.
Núi rừng cây trĩu trái xanh,
Chon von hồng tía mấy thành mây phong.
Phật kết: “ Vô thủy vô chung,
Nguyện Bồ Tát hóa vô cùng vô biên.
“ Kiếp xa xưa kẻ tật nguyền,
Bây giờ mắt huệ hiền viền tánh không.
“ Suốt nơi khắp cõi trần hồng,
Khác chi cát bụi trong lòng bàn tay.
“ Kể trong kẻ tóc triền mây,
Thú trùng cho đến cỏ cây muôn loài.
“Đều là pháp Thể Như Lai,
Đến vô lượng cõi không ngoài chân tâm”.
Vừa nghe người phá vọng tâm,
Như sen thường trụ trong đầm thiên thu.
Phát lòng thanh tịnh tiến tu
Nguyện muôn lượng kip đền bù hạnh duyên.

NĂM TRĂM NGƯỜI MÙ

Một thời đức Phật hóa duyên,
Bước chân giác ngộ miền miền kính tôn.
Dấu đi nở một sen hương,
Mỗi lời dựng một thái dương lòng người.
Dù nơi thánh bãi chân trời,
Đâu đâu cũng thấm nhuần lời trí bi.
Một hôm có bọn mù kia,’
Năm trăm người ngụ Xá Ly ngoại thành.
Nghĩ thân phúc đức mỏng manh,
Đui lòa kiếm bữa loanh quanh lần hồi.
Giờ nghe đức Phật hiện đời,
Khiến người sáng mắt nơi nơi thái bình.
Như trời dựng mở bình minh,
Như lòng mở hội nghĩ mình phúc duyên.
Bàn nhau kéo đến rừng thiền,
Về nương tam bảo đạo hiền học tu.
Mong sao thoát được bệnh mù,
Nguyện thành Phật đạo duyên phù hóa khai.
Thắp truyền đuốc tuệ sáng soi,
Mở tâm cứu giúp muôn loài mê tham.
Quyết lòng họp lại một đoàn,
Dắt nhau nhờ kẻ thuộc đàng đưa đi.
Gió mưa đói rét ngại gì,
Trèo non vượt suối chẳng nề khó khăn.
Kéo nhau sang Xá Vệ thành,
Một hôm gặp một dòng xanh sóng trùng.
Làm sao vượt được qua sông,
Ạt ào sóng dội bềnh bồng mây trôi.
Gã đưa đường bỏ đi rồi,
Bến sông còn lại bọn người dắt nhau.
Bàn quanh bàn quẩn lao xao,
Đến đây còn biết hướng nào lại qua.
Bấy giờ Phật ở miền xa,
Hào quang định lực tỏa ra bốn bề.
Thấy bọn mù bến sông kia,
Tìm cầu chánh pháp chẳng hề gian nguy.
Phật liền nhập quán từ bi,
Khiến cho muôn loại hướng về đạo tâm.
Tỉnh, quê khắp chốn xa gần,
Bỗng dưng náo nức lòng dân kéo về.
Mây thành quạt lụa tàn che,
Người người thư thái khác gì hội hoa.
Làng ven sông đánh thuyền ra,
Đưa người tàn tật vuợt qua bến này.
Dắt nhau lặn lội đêm ngày,
Hướng theo chim hót tìm ngay cửa thiền.
Tới nơi, liền sạch oán phiền,
Nghe trong gió thoảng hương triền hoa khai.
Phút giây, chợt cả đoàn người,
Mắt bừng sáng thấy rõ đài trầm hương
Giữa thành Xá Vệ mây vương,
Hào quang tỏa sáng mười phương ngời ngời.
Trông lên thấy Phật mỉm cười,
Bọn kia quì xuống lệ rơi nghẹn ngào.
Còn giờ quáng mắt chiêm bao,
Non mê biển oán tay nào xô tan.
Dưới hoa, hiền giả A-Nan,
Thấy điều mầu nhiệm vô vàn mừng vui.
Thế Tôn hiểu ý, mỉm cười:
“ Kiếp xưa ta đã đưa người bao phen.
“ Mà người quá nỗi bon chen,
“ che mắt thiên hạ đảo điên nghiệp dày.
“ Bây giờ thọ quả báo đây,
“ Mắt không ánh sáng một bầy theo nhau”.
A-Nan hỏi lẽ nhiệm mầu
Phật rằng: “ Nhân quả trước sau chẳng dời.
“ Nghiệp nhân như chuỗi bóng sôi,
“ Lênh đênh bể ải nổi trôi dật dờ”.
Rồi ngài kể chuyện xa xưa,
Có một hiên giả sớm trưa tu trì.
Một lòng đại trí đại bi,
Khiến cho muôn thú cũng về cảm theo.
Nhà bên cửa núi cheo leo,
Đưa người vực núi sớm chiều ngại chi.
Cũng nhờ thiện lực từ bi,
Khiến cho ác thú không hề hại ai.
Một hôm, có toán đông người,
Nói là buôn bán tìm nơi đổi hàng.
Nhờ ông hướng dẫn vượt non
Đi qua những lối xuyên sơn khó dò.
Hứa rằng sau mỗi chuyến đưa,
Sẽ trao vàng bạc để mà đền công,
Ông cười: “ Nào tôi có mong,
“ Bạc tiền đâu chỉ cốt lòng giúp thôi.
“ Xưa nay qua lại bao người,
“ Nghề này nghiệp nọ kiếm tiền nuôi thân.
“ Bây giờ các chú làm ăn,
“ Ta mong cũng giữ lòng nhân ý thành.
“ Bán buôn có lợi cho mình,
“ Mà người hữu ích mới đành tâm ta”.
Bọn kia chính bọn gian tà,
Thói quen là những lọc lừa đảo điên.
Tài xoay trắng hóa thành đen,
Bao người sạt nghiệp vì tin lỡ rồi!
Giờ nghe ông nói những lời,
Nghĩa nhân, nên vội đặt ngồi nghĩa nhân.
Rằng: “Chúng con rất thiện tâm,
Chưa hề có một lỗi lầm phiền ai.
“ Tới đây lạ cảnh lạ người,
Xin thầy đưa dẫn một người nhớ ơn”.
Thế rồi lui tới luôn luôn,
Đèo cao dốc hiểm đường mòn quen chân.
Ngày kia đến lúc hiền nhân,
Gần Lìa cõi thế trối trăn bọn này.
Rằng: “ ta sắp thoát trần đây,
Các ngươi xét lại tháng ngày đã qua.
“ Liệu mau hối cải, cần tu,
Mai đây ta sẽ độ cho tâm thành”.
Bọn người kia chợt giật mình.
Bao nhiêu tội trước, thực tình ăn năn.
Quì bên xác lạnh hiền nhân,
Thiết tha sám hối chí tâm nguyện thề:
“ Quyết theo đường sáng trí bi,
Đắp xây huệ nghiệp, xa lìa mê tham”.
Kể xong, Phật bảo A-Nan:
“ Thế nên trong kiếp trần hoàn như nay.
“ Bọn người kia lại tìm đây,
“ Mắt u đang tối sáng ngay như thường”.
Lau vàng lượt gió trầm hương ,
Tiếng chuông tịnh tự chiều sương dâng mừng,
Núi xa vẳng gọi chim rừng,
Hòa theo nhạc suối tưng bừng hư không.

PHỤNG ĐÔ

Xưa, nơi xóm trúc thôn đông,
Có nhà vườn rộng cây trồng tốt tươi.
Lúa ngô xanh một nương dài,
Nối dòng hiền đức, sinh người khôi ngô.
Ba trai hẳn vững cơ đồ,
Lại riêng chàng út: Phụng Đô biệt tài.
Đã thường cần mẫn hơn ai,
Dâu xanh tốt lá, lúa dài trĩu bông.
Mà khi ngơi việc ruộng đồng,
Cùng hai anh lại gắng công sách đèn.
Gương xưa, noi đức thánh hiền,
Việc nay, suy luận đắp rèn trí cao.
Gần xa ai cũng khen lao:
“ Sinh con như vậy tiếc nào công sinh”.
Cành cao rợp bóng thâm tình,
Tay cha vẫy lại bên mình thiết tha.
“Đã nhiều nắng giải sương pha,
Già đây đến lúc trời xa đất gần.
“ Trước khi rời khỏi phù vân,
“ Cha còn đôi chút ân cần này thôi.
Duyên xưa đã hẳn bao đời,
Trong tình ruột thịt luân hồi vào ra.
Kiếp này lại họp một nhà,
Phải sao được mãi thuận hòa dưới trên”.
Rồi ông đưa một nắm tên,
Cho ba chàng trẻ đứng bên dạy lời:
“ Các con bẻ từng chiếc coi”,
Tức thì từng chiếc trên trời gãy ngay.
Bèn cầm cả nắm trao tay
“ Giờ con bẻ thử bó này xem sao”.
Quả nhiên không có chàng nào,
Bẻ được nguyên bó đành trao lại người.
Ông rằng: “ Như lẽ trên đời,
Họp nhau thì mạnh chia rời rất nguy.
“ Trời xanh cao rộng nhường kia,
Hãy như tên nọ bắn đi ngút ngàn.
“ Lợi riêng đôi chút đừng ham,
Túi cơm, giá áo buộc ràng quẩn quanh.
“ Chí như chim vượt mây thành,
Bốn phương đất thẳm trời xanh là nhà.
“ Lòng như núi biếc đồng hoa,
Trang nghiêm muôn loại đâu là riêng ai.
“ Chẳng theo nghiệp lụy an bài,
Như tên bật vút ra ngoài khôn thiêng”.
Lắng nghe lời đẹp cha hiền,
Ba chàng tha thiết một nguyền bên nhau.
Lo rèn tâm trí cao sâu,
Biển đời vượt sóng mai sau ngại gì.
Môi già tươi nụ từ bi,
Ông thêm: “Tử biệt sinh ly lẽ thường.
“ Khi ta mãn kiếp trần gian,
Xác này sẽ đặt trên giàn lửa thơm.
“ Các con đừng chút khóc thương,
“ Hãy nên bố thí, cúng dường, phóng sinh”.
Sau khi căn dặn ngọn ngành,
Bấy giờ ông mới nhẹ mình an tâm.
Tìm vào hang động tuyền lâm,
Một lòng sám hối tỏ lòng nghiệm xưa.
Diệt tan vọng tưởng mê mờ,
Mấy tuần sau đã đến giờ tử ly.
Ba chàng theo đúng lời kia,
Phóng sinh bố thí không hề lãng xao.
Nguyện cho cha vút cành cao,
Lìa xa trần cấu cõi nào hóa sinh.
Anh em thân thiết bóng hình,
Ruộng vườn mầu mỡ gia đình thuận vui.
Khôn thiêng, cha hẳn mỉm cười,
Các con đoàn kết như lời trối trăn.
Một hôm cậu út chơi rừng,
Ngồi dưới đại thụ ngắm từng lá cao.
Bỗng dưng thấy áng mây đào,
Hóa thành chim phượng bóng sao dị thường.
Như non che khuất một phương,
Rồi tung cánh lớn vút đường không gian.
Gió lay, chàng tỉnh bang hoàng,
Bên mình tơi tả hoa vàng vàng bay.
Điềm chi? một thoáng mộng ngày!
Phụng Đô thắc mắc rời ngay về nhà.
Tìm hai anh, hỏi gần xa:
Giấc mơ thế ấy đoán ra thế nào.
Anh rằng: hẳn chí em cao,
Như chim từ áng mây đào hóa thân.
“ Cánh tung vượt lụy hồng trần,
Nên trong mộng ứng muôn phần tốt tươi”.
Phụng Đô từ tốn nối lời:
“Nguyện xưa em vẫn khôn nguôi tấc lòng.
“ Chẳng ham danh lợi đèo bồng,
“ Trăm năm tù túng trong vòng nhân duyên.
“ Chỉ mong xa lánh lụy phiền,
“ Như chim liệng cánh trong miền trời cao.
“Đó là điều vẫn ước ao,
“ Theo anh thấy có lẽ nào khác chăng?”
Người anh nói giọng ân cần:
Trải đau thương mới hiểu phần thanh cao.
“ Vượt bùn sen trở thơm sao.
“ Không gian truân ấy ai nào biết ai.
Ví dù chú gặp Như Lai.
“ Với lòng ỷ lại cũng hoài một thân.
“ Theo anh: phải nhập hồng trần,
“ Trong phiền não ấy chim thần tung cao.
“ Vả chăng tự ý ra vào,
“ Ngộ mê không lối ai nào cậy ai.
Ví dù quyết gặp Như Lai,
“ Thử xin vượt lụy trần ai tự mình”.
Lời anh cặn kẻ chân tình,
Nhưng lòng em vẫn đinh ninh một bề.
Sớm mai trời gió lê thê,
Chân mây còn lẽ một vì sao nghiêng.
Phụng Đô khởi bước xa miền,
Hai anh đưa tiễn lòng riêng nặng lòng!
Kẻ đi, chân nhẹ dặm hồng,
Người về mắt trĩu còn trông dõi hoài.
Ví vu lau lách bãi dài,
Nắng pha giọt nước gió mài gót lê.
Phố xa thoắt đã thấy kề,
Dừng chân, du tử ngoảnh về cô thôn.
Đâu nào… mái dựng chon von,
Mây xanh khoảng đó còn buồn dáng ai?..
Hành trang thôi lại bên người,
Gió phơi phới trỗi nhịp vui viễn trình.
Tháng ngày thả gót lênh đênh,
Khi say sông nước bình minh rực hồng.
Khi nằm bãi ngó trăng trong,
Khi lưng chừng núi bạn cùng sơn nhân.
Vừa quen chỗ, lại rời chân,
Đó đây thoắt đã mười năm phiêu bồng.
Quen rổi biển bắc, thành đông,
Quán biên thùy dựng, thuyền trùng dương qua.
Một hôm hái thuốc rừng xa,
Thấy cây quế nọ thực là quý sao.
Về Kinh dâng tiếu hoàng trào,
Ngự y tâu với ngôi cao: “ Quế này
“ Một đời ao ước gặp đây,
“ Rừng linh thiêng mới sinh cây được thần”.
Vua mừng, trọng đãi quý nhân,
Vời vào nội điện ân cần hỏi han.
Dinh cơ, chức tước đặt ban,
Đón người hồ hãi vào hàng quyền danh.
Mau quen nghi lễ triều đình,
Riêng còn lạ chuyện kinh thành phấn hương.
Tơ lòng chưa sợi tình vương,
Trong veo mạch suối chảy đường gió mây,
Một chiều man mác hương say,
Thong dong vó ngựa ra ngoài thành đô.
Lúa vàng thơm sóng nhấp nhô,
Bầy chim se sẻ quanh bờ đùa vui.
Phụng Đô mến cảnh đi hoài,
Ngựa thong thả nhịp, nắng phơi phới tà.
Vườn ai đầm thắm cỏ hoa,
Lối quanh từng khúc nguy nga một vùng.
Dừng cương dưới bóng cội thông,
Tới bên rào biếc ngắm hồng tường vi.
Chợt nhìn đàn bướm say mê,
Đương bay thăm khóm hoa kia trong vườn.
Mắt theo, lòng bỗng bang hoàng,
Bên hoa, ai đó! dịu dàng nét thơ.
Áo hoàng yến rủ nếp mo,
Trâm cài nửa mái huyền tơ diễm kiều.
Vẻ xuân tươi rạng nắng chiều,
Trên đôn cẩm thạch ngồi thêu khăn hồng.
Dáng nghiêng thược dược mơ mòng,
Chừng nghe gió thổi nao lòng cỏ hoa.
Chàng ngoải dậu biếc nhìn qua
Bâng khuâng ngắm vẻ kiêu sa đóa quỳnh.
Mà ai kia vẫn vô tình,
Ngón tay lả nét băng trinh thêu thùa.
Thoảng đâu một áng hương đưa,
Ướp theo cánh bướm ơ hờ bay ngang
Dừng tay kim chỉ mơ màng,
Nghiêng nghiêng nàng tựa dưới tang hoa mơ.
Nhìn trời ngâm mấy vần thơ,
Khiến ai đắm giữa âm thừa chơi vơi.
Thốt nhiên chàng cất nên lời:
“ Phải chăng đây mộng đó người đào nguyên?...”
Qua rào nghe vẳng tiếng khen,
Nàng buông khăn lụa, đứng lên sững sờ.
Nhận ra ngoài bức giậu thưa,
Có người đứng tự bao giờ không hay.
Áo người biêng biết mầu mây,
Ngoài bờ hoa tím đương ngây ngất nhìn.
Khiến lòng bối rối càng thêm,
Quay mình toan vội bước lên hiên nhài.
Phụng Đô tỉnh giấc chơi vơi,
Vội vàng cất tiếng: “ Xin người dừng chân.
“ Rộng lòng tha lỗi bỉ nhân,
“ Chót gây kinh động tâm thần chúa hoa.
“ Chiều nay theo giải nắng tà,
“ Tới đây gặp cảnh vườn thơ diễm hồng.
“ Nên đã mạn phép đứng trông,
“ Ngờ đâu vô ý phiền lòng cô nương!”
“ Giọng nghe phong nhã khác thường,
Bồi hồi ngưng bước, rẽ ràng gởi thưa:
“ Vì quen nắng vẻ vườn nhà,
Buồi nhàn thường vẫn thêu thùa chút vui.
“ Phút say bởi cảnh đẹp trời,
Có chi mà lỗi, xin người an tâm”.
Dứt lời nghiêng mái tóc xuân,
Dáng chào e ấp, nhẹ chân lui vào.
Để ai thầm lặng bên rào,
Rõi theo vóc liễu nao nao tâm hồn.
Đường về ngơ ngẩn hoàng hôn,
Lắng trong hơi gói như còn giọng ngâm.
Rồi đêm mơ tỉnh bao lần,
Nhớ nhung về bóng giai nhân vườn nào.
Niềm riêng đâu dễ im sao
Ngày ra tìm bạn thấp cao thăm dò.
Mới hay vườn thắm đào tơ,
Là nơi trang trại tiểu thơ họ Trần.
Kinh thành nức tiếng Tường Vân,
Nết tài hoa, tuổi cài trâm diễm kiều.
Nàng mong đôi lứa đã nhiều,
Mà bông khuê các vẫn treo riêng cành.
Mừng khi nghe rõ sự tình,
Chàng liền nhờ cậy mối manh đến người.
Song thân mến đức chuộng tài,
Còn nàng, bẽn lẽn thầm vui duyên lành.
Hẳn là hương lửa ba sinh,
Gặp nhau chiều đó vô tình mà ra…
Bõ lòng riêng tưởng thiết tha,
Mải mê tâm cảm, hững hờ chỉ kim.
Nghĩ là mộng đẹp cho tim,
Thế thôi, đâu dám mong thêm có ngày.
Vâng theo hôn lễ đủ đầy,
Đôi hồn xuân biếc, một dây tơ hồng.
Bên nhau hôm sớm thong dong,
Vần thơ dưới nguyệt, chén nồng bên hoa.
Lầu cao ngây ngất âm ba,
Tường Vân so phím, tay ngà lướt dây.
Ru chàng say nhịp tơ say,
Tiếng mau mau cánh chim bay vút trời.
Thành đàn gỗ cũng lên hơi,
Ngón thon nhạn trắng lả lơi giữa dòng.
Tiếng trầm mưa đổ trên sông,
Tuyết sa biển bãi hoa đồng chim xao.
Lại về vi vút mây coa,
Âm âm động suối bướm nào cồn hoa.
Hơi đàn như thiết như tha,
Mạch đàn như khói trầm sa ngút vời.
Ngón mau như kéo mây trời,
Dây thưa non nỉ như lời thiên thu.
Tay người hạc đậu trên tơ,
Khiến trăng mười sáu cũng ngơ ngẩn trời.
Song ngoài đôi cánh hoa rơi,
Nhìn hoa người lại ngỡ người trong mơ.
Ngày nào cách ấm rào thưa,
Hoa xanh riêng lối, nắng tà soi chung.
Những đêm thức ngủ mơ mòng,
Khuê trang dệt mộng, thư phòng ước ao.
Sắt son hò hẹn kiếp nào,
Giờ nên loan phượng ngọt ngào sánh duyên.
Xuân qua hạ giục lòng quyên,
Thời gian theo mảnh trăng lên khuyết đầy.
Mười năm thoáng mộng xum vầy,
Hiên văn ríu rít một bầy trẻ sinh.
Năm trai tuấn tú thông minh,
Cành mai lại hé nụ quỳnh đôi bông.
Một đêm chàng dạo ven sông,
Chợt buồn cá chậu chim lồng quẩn quanh.
Ngắm trời bát ngát trắng xanh,
Chim đơn tung cánh vượt thành hoa mây.
Chim ơi biển Bắc non Tây,
Còn ta chật hẹp tháng ngày công danh.
Chim ơi đồng tía non xanh,
Còn ta quanh quất trong thành chiêm bao.
Chim ơi cồn hạnh nội đào,
Còn ta vương víu ra vào vợ con.
Đêm nay chim tới động non.
Vui trăng đầu bãi tiếng còn vọng sông.
Vó xuôi ngựa gõ trần hồng,
Theo dòng nước cuộn trăng không bến bờ.
Chí hồng lại dục lòng xưa,
Về phòng văn để bài thơ tạ tình.
Như chim xoải cánh lênh đênh,
Đường trăng gió vó dục bên dòng sóng sa.
Rừng vàng trở áo thu hoa,
Lòng ơi đã rũ trần sa sạch ngần.
Chàng lên kiếm động non thần,
Lắng tâm phá dứt vọng trần thoát ra.
Lần hồi ngày lại ngày qua,
Hiên văn, lầu Nhạc nhạt nhòa mây trôi.
Như tên vút khỏi vòm trời,
Riêng trăng bầu bạn bên người trầm tư.
Một đêm ngồi động rêu mờ,
Trông lên hoa rụng như mưa phía ngoài.
Chàng đi dạo dưới bờ mai,
Hỏi xuân thu có dạc dài đền hoa.
Nghĩ mình đã mấy năm qua,
Lẽ đâu ngồi để xương da rụng rời.
Nhớ xưa Xá Vệ có người,
Rộng khai chính đạo rạng ngời trí bi.
Vậy còn lần nữa mà chi.
Tìm thầy, giờ phải ra đi một lần.
Thế rồi quẩy gói phù vân,
Đường trăng như gọi dấu chân ngút vời.
Chuyến này gặp được mới thôi,
Thử xem hư thực như lời đồn danh.
Qua bao sương ải mây thành,
Mùa xuân lại rộn trên cành tiếng chim.
Buổi kia ngừng trước non sim.
Hoa lay cánh biếc, non xanh lặng tờ.
Gặp người khoác tấm y tơ,
Trông quen tưởng đã bao giờ cố nhân.
Bỗng dưng như sạch bụi trần,
Lòng chàng bừng dậy mùa xuân diệu vời.
Từ đây ở lại bên người.
Vọng tâm đã tuyệt ba đời chiêm bao.
Một đêm phòng ánh bạch hào,
Dù xa muôn dặm khác nào gần đây.
Thấy trên biển Bắc ùn mây,
Sóng nhô đầu bạc gió vây gầm gừ
Một thuyền xoay trở ngất ngư.
Nhìn trong khoang chợt thoáng ngờ dáng ai.
Đúng rồi: người anh thứ hai,
Hẳn theo thuyền kiếm ngọc trai đảo nào.
Biển trùng vùn vụt sóng cao,
Phút giây sinh tử kẻ gào người ta.
Chàng dùng khẩu mật truyền xa,
Bảo anh phải niệm Phật Đà ngay đi.
Nam mô đức Phật từ bi,
Độ cho thoát khỏi cơn nguy chốn này.
Người anh phách lạc hồn bay,
Bỗng nghe lời nọ bên tai rõ ràng.
Mọi người chợt thấy hào quang,
Tâm kia chợt lại vững vàng như không.
Tiếng đâu như vẳng chim đồng
Người người quì niệm một lòng trang nghiêm.
Bỗng dưng gió lặng sóng yên,
Thuyền dương cánh lại xuôi miền gió hương.
Ai ai thấy chuyện lạ thường,
Lòng tin như khối kim cương tỏa ngời.
Mùa mưa lại đã đến rồi,
An cư ba tháng tùy nơi thuận tình.
Phụng Đô sửa áo ôm bình,
Xin về quê cũ tự mình an cư.
Lại xin mở cửa thái hư,
Đem xuân lại nở hoa từ chốn quê.
Thế Tôn ưng thuận cho về,
Quê cha trồng cội Bồ Đề đền ơn.
Hạ vàng trở gót phong sương,
Kể từ biền biệt cố hương đền giờ.
Cùng anh viếng mộ cha xưa,
Rồi vua hỏi chuyện ngày qua biển trùng.
Trong lần hiểm nạn bão going,
Niệm hồng danh Phật thoát vòng gian lao.
Người anh vội đáp: “ Lạ sao!
Con nguy, chợt có bạch hào chiếu qua.
“ Tiếng ai khuyên niệm Phật Đà,
Làm theo, quả được trời hòa sóng yên.
“ Nhưng em xa cách trăm miền,
Mà sao lại biết việc trên rõ ràng?...”.
Phụng Đô liền tỏa hào quang,
Mười phương như nắm bụi vàng trên tay.
Rõ ràng biển Bắc thành Tây.
Rõ ràng cõi đó phương đây rành rành.
Bàng hoàng tâm trí hai anh,
Vội quì dưới cỏ tâm thành tỏ thưa:
“ Tiễn em ngày đó, nào ngờ,
Trên đường cầu đạo gió mưa khôn ngừng.
“ Tưởng đâu hang núi động rừng,
Cánh chim vụt đã mấy từng mây cao.
“ Chợt giờ mừng lại gặp sao,
Thân em lại khoát y đào nghiêm trang.
“ Kể chi trong tỉnh ngoài làng,
Đức cao hẳn khắp nước đang mong chờ.
“ Hai anh phát nguyện từ xưa,
Trợ duyên chính pháp Phật thừa mở khai.
“ Giờ đây mong được cúng trai,
Để gieo nghiệp đức, vị lai cậy nhờ.
“ Xin em cung thỉnh Phật từ,
Cùng tăng thánh chúng về cho vùng này.
“Ánh vàng soi chiếu nơi đây.
Khiến công đức thắm đủ đầy chúng sinh”.
Phụng Đô vui giúp việc lành.
Bên hoa trầm ngát hóa thành gió bay.
Lưng trời cuộn bóng rồng mây,
Đến thành Xá Vệ lựa ngày thỉnh trai.
Vui lòng đức Phật Như Lai,
Hứa cùng đệ tử rằng người sẽ qua.
Vội về nghi thiết trầm hoa,
Dựng đài pháp bảo một nhà tịnh thanh.
Tin vui lan khắp tỉnh thành:
“ Tuần sau Phật hóa duyên lành nơi đây”.
Thôn nam cho đến đồi Tây,
Người người sửa soạn đợi ngày cung nghinh.
Những nghề săn lưới sát sanh,
Dân đều dứt bỏ thêm tình yêu thương.
Đến ngày trai thỉnh cúng dường,
Mây đâu tụ kết tàn hường thinh không.
Hoa đâu nở trắng nội đồng,
Chim vui cùng với non bồng gió reo.
Trên mây một vi tỳ kheo,
Kiết già phu tọa y điều quanh minh.
Là thầy trực nhật : Tục sinh,
Xuống đây sửa soạn lễ đình trầm hoa.
Lại thêm mười sáu lạc đà,
Chúng sa di xuống bên nhà khói hương.
Biến ra rừng núi hoa sương,
Đồi cao trái đỏ hồ vương khói dài.
Bên đường hoa trảil hàng hai,
Độngt trầm chim họp tụng vui kinh Hièn.
Thêm năm la hán cao niên,
Hóa thành rồng cuộn kết nên một tòa.
Phun thành bốn mối tuôn ra,
Mây hồng tỏa chiếu bao la giữa trời.
Kiều Trần Như, đó năm người,
Thần thông vô ngại tỏa ngời trí minh.
Ma Ha Ca Diếp vân trình,
Một nhà giảng đọc tự mình biến ra.
Cột mây, mái bạc, thềm hoa,
Vi vu gió thoảng trên tòa nhạc bay.
Rồi Xá Lợi Phất qua đây,
Tướng oai sư tử kết đài trân châu.
Rung lên sấm chớp năm màu,
Tự thinh không xuống bên lầu nguy nga.
Mục Kiền Liên cũng bay qua,
Hóa thành voi trắng sáu ngà lớn sao.
Mỗi đầu ngà, hiện một ao,
Mỗi ao lại nở sen đào bẩy bông.
Đài sen hiện sắc cầu vồng,
Trên cầu ngọc nữ trải hồng cánh tươi.
Đầu voi mây kết bẩy đài,
Mục Kiền Liên hóa thân ngời hào quang.
A Na Luật hiện hồ vàng,
Bẩy hồ thất bảo rỡ ràng sắc hương.
Đài hoa óng ánh kim cương,
Bóng A Na Luật y hường sắc bay.
Nhật Quang cầm ở trên tay,
Phóng ra bốn hướng trời đầy vàng soi.
Lại Nan Đà đến lưng trời,
Ngựa xe, tàn tán diệu vời trước sau.
Vó nào nhạc chuyển mưa mau,
Ánh lên muôn sắc một bầu trời mây.
Hiện thêm bảy núi ngọc đầy,
Có đường đá trắng kết dây hoa vàng.
Ngài Tu Bồ Đề trong hang,
Lưu ly, mã não hàng hàng suối tuôn.
Rồi ngàn thân của La Vương,
Kết thành tháp cẩn kim cương tỏa ngời.
Đó là thần lực tuyệt vời,
Văn Đà Ni Tử giữa trời hóa ra.
Tràng tràng anh lạc khánh hoa,
Vi vu gió thổi nhạc hòa du dương.
Và đây một đám mây hương,
Ngàn con nhạn kết lọng hường bay đi.
Thần thông ngài Ưu Ba Ly,
Hóa ra lọng gấm diệu kỳ đó thôi.
Nhạn tha khánh ngọc lưng trời,
Thoảng mưa nhã nhạc nơi nơi thái hòa.
Với nhiều sa môn hóa ra,
Lưu ly biêng biếc đường qua ngút ngàn.
Lề đá thất bảo chói chan,
Đôi bờ dương liễu dịu dàng lối mây.
Hàng hàng tăng chúng qua đây,
Nghiêm trang y pháp dáng đầy thung dung.
Đại Ninh hiện giữa hư không,
Bẩy từng cây báu trùng trùng trái hoa.
Dưới cây hiện bẩy ngọc tòa,
Đại Ninh ngồi giữa thân đà sáng tươi.
Mười phương mây nổi hoa dời,
Hào quang nhật nguyệt cõi trời tỏa buông .
Lại tòa ngan ngát khói hương
Tân Lư trầm mặc dáng thường uy nghi.
Nguyệt quang đeo cổ, diệu kỳ,
Phóng si ánh sáng muôn vì sao la.
Vừa khi ấy La Hầu La,
Trên vòm mây nổi như tòa non sương.
Oai nghi vẻ đẹp phi thường
Hòa thân làm chuyển luân vương giữa trời.
Năm trăm đệ tử đến nơi,
Bầy ra cõi giới diệu vời phương mây.
Bỗng dưng ánh sáng vàng soi,
Đó là biến tướng Phật dời tòa sen.
Rỡ ràng như thái dương lên,
Đất trời chuyển động sáu lần nghiêm trang.
Hai bên Đế Thích, Phạm Thiên,
Cùng là tiên giới khắp miền phiêu diêu.
Lối sang mây trải vóc điều,
A-Nan cùng đại chúng theo Phật từ.
Như bầy hạc giữa thái hư,
Đại phương mây nổi chân như một viền.
Dưới thành dân giã trông lên,
Phật cùng đại chúng hóa duyên miền nào.
Pháp y phơi phới vàng sao,
Khiến người tin dạ ước ao tín thành.
Khỏi vàng tâm bịnh nổi nênh,
Mừng vui theo hướng cha lành tiến mau.
Như cuồn cuộn sóng theo nhau,
Bao loài khác cũng tự đâu kéo về.
Kính nghe diệu pháp Bồ Đề,
Chân tâm mở lối, si mê phá vòng.
Thế Tôn hiện giữa hư không,
Bên đường hoa nổi bềnh bồng gió bay,
Rồi vào ngự giữa đàn trai,
Bỗng dưng hóa hiện cõi trời như nhiên.
Một phương tịnh độ hiện tiền,
Thế gian được thấy, ưu phiền sạch tan.
Bấy giờ hiền giả A-Nan.
Chắp tay cung kính hỏi han sự này.
Phật rằng: “ Trong cõi trần đây,
Ngài Ca Diếp đã ra tay một thời.
Từ tâm ngài cứu độ đời,
Khiến cho nhân loại được vơi biển sầu.
Trong khi có một nhà giàu,
Ở vùng xa nọ, tâm cầu tiến tu.
Phúc gây, mong kiếp sau nhờ,
Lưng non dựng một ngôi chùa nghiêm trang.
Chép kinh, tạc tượng, thỉnh tăng,
Mở trường tu học, dựng đàn pháp khai.
Đạo mầu mong thấm nơi nơi,
Đến khi ông mãn kiếp người hóa sinh.
Làm vua trên cõi thiên đình,
Thành vàng điện ngọc quang minh chói lòa.
Cháu con hưởng đức ông cha,
Khuyên nhau tu tiến thêm ra phúc lành.
Khắp nơi châu, quận, tỉnh, thành,
Kính yêu dòng họ công danh rỡ ràng.
Con trai ông có một chàng,
Thay cha hộ pháp cúng dàng chư tăng.
Một lòng ngăn ác phù chân,
Soi trăng tu học chuyên cần sớm khuya.
Dù không thế phát quy y,
Chân tu giữa cõi bộn bề tanh hôi.
Truyền lưu chính pháp trụ đời,
Chẳng tham danh lợi nổi trôi bọt bèo.
Thuyền to vững một tay chèo,
Hộ trì Tam Bảo y theo pháp hiền.
Nguyện không thành Phật thành tiên,
Chỉ làm Bồ Tát hóa duyên cõi đời.
Truyền đăng trí tuệ người người,
Phát tâm cứu thoát muôn loài khốn nguy.
Thực người đại trí đại bi,
Như non ngọc giữa tham si chiếu ngời.
Trải qua bao kiếp luân hồi,
Một lòng hộ pháp sáng soi đạo hiền.
Bây giờ gặp đại nhân duyên,
Như chim lớn vượt miền miền trăng sao.
Dong chơi một giấc mộng đào,
Chí kim cương vững ra vào ngại chi.
Tâm như cửa ngọc lưu ly,
Dấu chân đại trí đại bi rõ ràng.
Hôm nay lễ thỉnh trai tăng,
Cùng là Bồ Tát vân đằng qua đây.
Cúng dường hiện mấy đài mâu,
Tiền thân đền chút duyên may gọi là.
Dù vô lượng cõi trần sa,
Cũng do hóa hiện tâm ra trùng trùng”.
Thuyết xong Phật hiện thần thông,
Giữa trời vọng tiếng chuông đồng âm ba.
Khiến trời cao rộng mưa hoa,
Người người tỉnh thức nhà nhà an vui.
Khiến đồng lúa trổ đòng tươi,
Khiến trùng thú bỏ luân hồi hóa sinh.

ÁO RÁCH LÒNG VÀNG

Một đêm Phật chiếu quang minh,
Nghìn trùng mây kết thủy tinh điện đài.
Hiện chân tướng khắp muôn loài,
Trong hồ sen trắng cõi ngoài vô biên.
Nước hồ là cõi đại thiên.
Chúng sinh hiện đóa bạch liên trùng trùng.
Đóa thì vươn ngát hư không,
Đóa thì vừa kết nụ bông đáy hồ.
Gần đài Phật ngự ven bờ,
Có bông sen nọ tới giờ mở khai.
Phật cười nâng một ngón tay,
Hóa thành gió nhẹ mở đài nhụy hương.
Sớm mai vừa lúc tinh sương,
Phật mang bình ngọc y hường nghiêm trang.
Theo sau là ông A-Nan,
Lòng hoa khói ngút sương tan đầu cành.
Xa xa cổng Xá Vệ thành,
Mây hồng man mác, đá xanh mấy bờ.
Cánh chim trắng dệt dòng thơ,
Lề đường cỏ biếc biếc tơ hữu tình,
Bước chân tịch mặc kinh hành,
Dấu in lối cát nét tranh tuyệt vời.
Cổng thành vừa bước tới nơi,
Phật dừng chân trước một người gánh phân.
Nhớp nhơ rách rưới muôn phần,
Là Ni Đề kẻ hạ nhân vốn dòng.
Sớm ngày vất vả long đong,
Nghề quen làm mướn đổ thùng đã lâu.
Thấy người khác dám nhìn đâu,
Biết mình như kiếp ngựa trâu đọa đày.
Giờ nhác thấy Phật tránh ngay,
Gánh sang lối khác bên này ngõ ra.
Nhưng lại cũng gặp Phật Đà,
Chắn ngang, môi nở nụ hoa đại từ.
Anh ta dừng bước ngẩn ngơ,
Phật rằng: “ Ngươi muốn vượt bờ mê chăng.
“ Xuất gia nhập chúng tu hành,
“ Nương theo ánh đạo trọn lành trí bi”.
Ni Đề phục giữa lối đi,
“ Dòng con hạ tiện được gì mà mong.
“ Chư tăng quí tựa vàng ròng,
“ Chí như rồng phượng ngoài vòng trần lao.
“Đạo ngài sánh với trời cao,
“ Thân hèn đâu dám dự vào chúng tăng”.
Thế Tôn nâng dậy bảo rằng:
“Đạo ta như nước chảy băng nhơ phiền.
Đạo ta như lửa cung tiên,
Đốt tan mê muội muôn nghìn sạch băng.
Đạo như đạil nhật sao trăng,
Sáng soi muôn loại mười phương lầu lầu.
Đạo như muôn cửa sâu mầu,
Khuôn vàng cao rộng sang giầu kể chi.
Trí hiền cao đến ngu si,
Ác gian cho đến từ bi cũng là.
Một tâm vượt khỏi ái hà,
Bụi trần vô lượng hóa ra Niết Bàn”.
Phật truyền hiền giả A-Nan,
Dắt Ni Đề xuống bến giang tắm mình.
Sau khi hóa độ trong thành,
Ngài về tịnh Xá Kỳ Hoàn nghỉ ngơi.
Gọi Ni Đề đến bên người,
Giảng cho tứ đế, giới trai tẩy phiền.
Nghe xong ông chứng ngộ liền,
Trở thành La Hán tự nhiên phép mầu.
Tam minh soi tỏ trước sau,
Trăm thành quách mộng vút mau cánh thần.
Chuyện Phật độ kẻ gánh phân,
Tin lan đến khắp chúng dân nội thành.
Người cho như một điềm lành,
Người rằng ô uế đạo thanh tịnh này.
Xôn xao ải Bắc thành Tây,
Vua nghe tin cũng tìm ngay đến rừng.
Quyết xin Phật chớ bao dung,
Kẻ kia ô uế bần cùng khó coi.
Tới nơi vua gặp một người,
Đang ngồi vá áo mỉm cười an nhiên.
Dưới thềm chợt hiện chư tiên,
Đào, hoa, hương, nhạc dâng lên cúng dường.
Ngừng xe, vua xuống bên đường.
Chắp tay hỏi: “Đức Thế Tôn có nhà?
Kính nhờ La Hán bạch qua,
Rằng con có chuyện xin thưa cùng người.”
Sư liền bay bổng lên trời,
Mây thành hoa báu rạng ngời hào quang.
Vào trong tịnh xá Kỳ Hoàn,
Bạch Phật : “ Có đức vua sang hầu ngài”.
Như Lai bảo trở ra mời,
Ni Đề lại hóa mây trời bay cao.
Vua đang nghỉ dưới cội đào,
Thấy sư, vách đá xuyên vào như không.
Rõ ràng sáu phép thần thông,
Khiến vua cung kính tỏ lòng sợ oai.
Theo vào đến chổ Như Lai,
Vội quì xuống dưới chân ngài tỏ thưa:
“ Thực con chưa gặp bao giờ,
Thần thông qua lại đá bờ như nay.
“ Phép mầu hiện hóa mây bay,
“ Xin cho biết thánh tăng này là ai”.
Phật ung dung : “ Chính là người,
Khiến vua vội tới, sắp lời khuyên ta”.
Vua Ba Tư Nặc sững sờ,
Ngờ đâu hạ tiện tu mà thành công.
Dự hàng La Hán thần thông,
Mà ta xưa đã nuôi lòng rẻ khinh.
Nghĩ thôi hối hận tội mình,
Thế Tôn vẫy lại, thân tình hỏi han:
“ Xem trong hư huyễn thế gian,
Tôn ty, giá trị, hèn sang cũng là.
“ Cõi tù ngục nhốt người ta,
Dựng nên giả ngã một tòa vọng mê.
“Đắm tham mãi mãi đi về,
Chơi vơi cuộn giữa bốn bề lệ sông.
“ Sinh ra ngã, pháp đôi vòng,
So đo, trả ngụy, một lòng hơn thua.
“ Cõi trần từ thủa xa xưa,
Mãi đem giả tướng tự lừa dối nhau.
“ Chân tâm một thể nhiệm mầu,
Như hương sen tỏa trước sau cũng đồng.
“ Cho nên hôm tới cửa Đông,
Là ta có ý gặp ông Ni Đề.
“ Biết cơ duyên tới, đón về,
Khuyến tu rực rỡ bồ đề tự tâm.
“ Cầu đạo lớn, vượt mê lầm,
Trong bao nhiêu kiếp dễ tầm thấy đâu.
“ Hiển chân tánh giữa tham sầu,
Dù là một sớm tâm mầu bừng soi.
“Cũng cùng tánh trí tột vời,
Cũng cùng máu chảy trong người như ai.
“ Tâm kia chẳng có trong ngoài,
Ngộ mê chẳng có riêng loài thấp cao”.
Vua nghe thức tỉnh chiêm bao,
Nguyện lòng chẳng nệ ai nào hơn ai.
Đem về một tánh Như Lai,
Từ bi trải đến muôn loài chúng sinh.
Gột lòng kiêu bạc vô minh,
Cúi đầu sám hối, về thành an nhiên
Quyết lòng hóa chuyển nhân duyên,
Phá tan định thức lưu truyền xưa nay.
Tương duyên kết hợp nên người,
Thiên đường dựng ở cõi đời đâu xa.
Khiến cho nước nước nhà nhà,
Ấm no hiền đức thuận hòa an vui.
Ác gian cũng tự lòng người,
Thiện nhân cũng tự cuộc đời hóa sinh.
Trên đài Phật phóng quang minh,
Mười phương pháp giới hiền hình ao sen.
Một bông sen chợt nổi lên,
Như vành xe lớn vươn trên nền trời.
Cánh hoa năm sắc diệu vời,
Hào quang năm sắc tỏ ngời mười phương.
Là điềm vua chuyển luân vương,
Hiện lên phát nguyện kim cương cứu đời.
Khiến cho khắp dưới vòm trời,
Thương yêu thắm thiết tình người thơm hoa.
A-Nan tiến lại bên tòa:
Bạch thầy, chắc có duyên xưa lạ lung?
“ Ni Đề nay hiển thần thông,
Vua Ba Tư Nặc mở lòng đại bi”.
Phật cho hay kiếp xưa kia,
Đức Ca Diếp chuyển Bồ Đề trần gian.
Đêm ngày mõ tụng kinh vang,
Tiếng âm định lực phục hàng nghiệp ma.
Ngày kia ở chốn lam già,
Chúng tăng y giới Phật Đà tịnh tu.
Có thầy thượng tọa trụ trì,
Thông minh kiêu ngạo sân si còn dầy.
Ỷ mình đã ở bậc thầy,
Bắt một ông đạo ngày ngày đổ phân.
Ông này chứng Tu Đà Hoàn,
Mà tăng chúng ở già lam hay nào,
Thầy kia tự ngã tự cao,
Nên nhiều kiếp bị đọa vào bần dân.
Kiếm ăn bằng cách đổ phân,
Song nhờ kiếp trước gieo nhân tu hành.
Nên hôm Phật tới cổng thành,
Đón người vốn tích duyên lành xa xưa.
Như hoa sen đã đến giờ,
Tỏa hương thanh tịnh trên bở nghiêm trang.
Giúp cho dứt cõi đoạn tràng,
Cánh linh điểu thoắt vượt ngang khỏi miền.
Ni Đề xưa lại có nguyền,
Mai sau thành đạo như viền trăng soi.
Cho người người khắp chốn nơi,
Gặp bậc đại giác chuyển dời nhân duyên.
Khiến trần hồng với thiên tiê,
Cũng là một cảnh đôi miền khác chi.
Cát sông cũng tỉnh tham si,
Mười phương hiện cõi lưu ly Phật Đà.
Nguyện kia chuyển cõi ta bà,
Khác chi một đóa liên hoa diệu vời.
Thuyết xong cuộn áo giáng trời,
Con chim hát núi âm rơi dưới cành.
Tiếng chim như rụng thiên thanh.
Hàng hàng tăng lữ kinh hành bên hoa.
Áo vàng thấp thoáng chiều pha,
Bước im như suối mù sa núi nào.
A-Nan đứng dưới cội đào,
Hiu hiu gió cuộn thì thào nội cây.
Chân trời, chim lẫn ngàn mây,
Cùng nhau thấp thoáng họp bầy về Nam

ĐẠI KIẾP TÂN NINH

Một thời, trong ánh từ quang,
Toàn dân Xá Vệ bốn phương vui hòa.
Có người thương khách lại qua,
Đem lời xưng tụng truyền xa cõi ngoài.
Vua Kim Địa quốc vốn người,
Thắng dư ngàn trận, vang trời oai danh.
Hiệu là đại kiếp Tân Ninh,
Nghe khen nước khác lôi đình nổi ngay.
Liền cho sứ giả sang đây
Đòi chia lãnh thổ hẹn ngày gắt gao!
Vua, quan Xá Vệ lo sao,
Vội cầu Phật chỉ cách nào thoát nguy.
Tìm qua động khói tà huy,
Tới bờ rêu biếc bái quì tỏ thưa.
Dưới giàn hoa rụng như mưa,
Phật ngồi bên suối ngâm thơ một mình.
Sau khi nghe kể sự tình
Bảo về cho sứ Tân Ninh biết là.
Liền bên Xá Vệ từ xưa,
Có một vương quốc mạnh vừa gấp trăm.
Chở che Xá Vệ bao lần,
Giờ nghe tin dữ vội thăm sự tình.
Truyền đòi sứ giả Tân Ninh,
Phải sang chầu tại triều đình đó ngay.
Không tuân sẽ bị tan thây,
Tài nào thoát được họa này mà mong.
Rồi ngài dựng phép thần thông,
Rừng Kỳ Hoàn hóa thành đồng nguy nga.
Ngựa, voi, xe trận bầy ra,
Trại doanh san sát, rừng cờ đua tươi.
Lại thêm dũng tướng ngàn người
Chỉ huy hàng ngũ sáng ngời gươm đao.
Hào sâu ngút ngút thành cao,
Điện cung lầu các khác nào thiên tiên.
Lúa thơm xanh ngắt muôn miền,
Đâu đâu cũng dựng chùa chiền tôn nghiêm.
Lối vào thành ngọc đôi bên,
Mấy tòa mã não mấy thềm lưu ly.
Ngai vàng, điện ngọc uy nghi,
Văn quan võ tướng đôi bề nghiêm minh.
Về phần sứ giả Tân Ninh,
Nghe đòi, chưa biết sự tình ra sao.
Đất người đâu dễ thoát nào,
Thì qua xem để rồi sau liệu đường.
Phái đoàn tiến tới thành vương,
Giật mình trước cảnh phi thường oai nghi.
Nước mình so sánh đáng chi,
Mà vua mình lại toan bề viễn chinh!
Trước thềm phách lạc hồn kinh,
Tay dâng thơ nọ, mặt xanh như chàm.
Giọng oai truyền tự ngai vàng.
Bắt vua Kim Địa phải sang đây chầu.
Tội đòi đất cát không đâu,
Nuôi lòng háo thắng, gây sầu binh đao.
Phải sang tạ trước thiên trào,
Nếu không, toàn quốc tiêu hao tức thì.
Phán xong cho sứ lui về,
Một đoàn người ngựa hết bề vênh vang.
Về đến Kim Địa khai tường,
Rằng thấy nước chuyển luân vương thật là.
Cung vàng, điên ngọc nguy nga,
Thành cao, hào rộng, binh cơ oai hùng.
Nhân dân vui sướng vô cùng,
Khắp nơi tươi đẹp, suốt vùng thương nhau.
Rõ ràng là nước mạnh giàu,
Ngựa voi chinh phục năm châu cũng thừa.
Tân Nin đại đế sững sờ,
Tưởng mình vô địch, ai ngờ đến đâu!
Vội vàng triệu tập chư hầu,
Các vua nước nhỏ vẫn chầu tiến đây.
Chiến, hòa thảo luận hăng say,
Cuối cùng đành chịu theo ngày hẹn sang.
Để cho được thấy Thiên vương,
Và cho tránh khỏi tai ương nước nhà.
Mang theo nhung gấm ngọc ngà:
Nghìn xe ngựa kéo, cầu hòa lễ sang.
Xứ đoàn qua khỏi biên cương,
Gặp toàn ma quỉ bên đường hiện ra.
Cung tên gươm giáo sáng lòa,
Vạc dầu, địa ngục muôn tòa lửa nung.
Sẵn sang luộc kẻ ác hung,
Diệt quân xâm lược, vô cùng gớm ghê.
Xa xa thành dựng pha lê,
Hào quang rực rỡ bốn bề nguy nga.
Ngàn ngàn voi ngựa kéo ra,
Toàn là dũng tướng, toàn là tinh binh.
Vua nước Kim Địa thất kinh,
Càng trông càng tự giận mình cạn nông.
Trước nơi chin bệ thềm rồng,
Ăn năn hối lỗi, tạ lòng cao sâu.
Nguyện đem bao nước chư hầu,
Theo về nghĩa cả, quy chầu thánh vương.
Phật truyền mở tiệc thết mừng,
Món ngon, thức quí lạ lung bày ra.
Tân Ninh quan sát gần xa,
Khắp nơi trên thuận dưới hòa xiết bao.
Kính thành hỏi đấng tối cao:
Cách nào kiến quốc, cách nào an dân.
“ Luật hòa là phép cường quân,
Khẩu hòa là phép nghĩa nhân trị người.
“ Kiến hòa khai hóa cõi đời,
Thân hòa là phép nơi nơi an lành.
“ Lợi hòa là phép an dân,
Ý hòa là phép trừ sân muộn phiền.
“ Bi là sức sống miền miền,
Trí là gươm phép dựng quyền quốc gia.
“ Hùng là sức dẹp phong ba,
Dù muôn cõi cũng một nhà anh em”.
Dậy xong, truyền lấy cung tên,
Tám chàng lực sĩ vội khiêng đến ngài.
Bảo Tân Ninh giương thử coi,
Nhà vua ra sức một hồi uổng công!
Phật bèn cầm lấy tên, cung,
Nhẹ nhàng giương nẩy tiếng đồng sấm ran.
Bắn ra vô vạn tên vàng,
Người trong tiệc yến kinh hoàng xiết bao.
Cánh cung ngọc tỏa bạch hào,
Đầu tên sen nở khác nào luân xa.
Đài sen nhụy kết thành tòa,
Chuyển luân vương ngự giữa hoa diệu vời
Giớ đâu thoảng ngát trầm hơi,
Trong hương văng vẳng những lời pháp thiêng.
Khiến người nghe sạch ưu phiền,
Thiện căn tăng trưởng dưới trên thuận hòa.
Người thì phát nguyện xuất gia,
Vượt tam thế mộng ngự tòa kim cương.
Người thì vượt thoát vô thường,
Khiến người cõi giới cúng dường ân chiêm.
Chúng sinh trên cõi thiên tiên,
Vừa nghe chính pháp hương thiền tỏa đưa.
Lòng thanh tịnh, trải hoa mưa,
Cúng dường tán thán Phật thừa mở khai.
Có người cầu đạo Như Lai,
Có người nguyện xuống trần ai độ trì.
Lại hàng ngạ quỉ tham si,
Tai nghe sấm chuyển từ bi hóa lòng.
Tiêu tan lửa ngục cõi hồng,
Hốt nhiên siêu thoát ngoài vòng tâm lao.
Cõi nhân thiên hóa sinh vào,
Hoặc đi cứu khổ người nào đớn đau.
Lại loài trúng thú ngựa trâu,
Vừa trông ánh sáng nhiệm mầu tỏa soi.
Tham si như đám mây trôi,
Hóa sinh lên cõi trời người tiến tu.
Lại người dưới cõi ngục tù,
Ngời trong biển oán non thù nhẹ tênh.
Thân tâm muôn sự an lành,
Hóa sinh lên cõi trời xanh ngọc ngà.
Người dù ác nghiệp trần sa,
Nghe xong rũ bụi ái hà tanh hôi.
Tân Ninh cùng với bề tôi,
Tan tành ác kiến, phục hồi chân tâm.
Vội quì quanh bậc Thánh Vương,
Một lòng sám hối, vô thường nguyện qua.
Bỗng dưng thành quách muôn tòa,
Bay lên cùng bóng mây sa giữa trời.
Hiện ra tăng chúng muôn người,
Quanh tòa thất bảo diệu vời hào quang.
Giữa đài Phật đắp y vàng,
Từ bi trí huệ rỡ ràng ngọc soi.
Thần thông biến hiện diệu vời,
Các vua cùng đến bên Người hân hoan:
“ Chúng con ngu muội gian tham,
Bây giờ nguyện xuất thế gian tu hành.
“ Nghìn năm gặp được duyên lành.
Xin ngài tế độ cho thành nghiệp lưu”.
Phật gọi: “ Thiện Lai tỳ khiu!”
Là áo vua biến hồng điều cà sa.
A-Nan hầu dưới giàn hoa,
Cánh rơi như thể tuyết sa y vàng.
Thấy các vua giữa đạo tràng,
Bỗng dưng biến tướng dự hàng thánh tăng.
Chắp tay hỏi đức Pháp Vương:
“ Xin thầy cho được tỏ tường việc nay.
“ Vì sao các vị vua đây,
“ Tóc rụng, áo đổi, hiện bầy dáng tu?”.
Thế Tôn kể kiếp xa xưa,
Đời Phật Ca Diếp pháp thừa mãn khai.
Sau khi ngài nhập diệt rồi,
Thành kia mới có một người tín gia.
Thường đi các chốn lam già,
Khuyến người công đức dựng nhà pháp tăng.
Trợ duyên các vị tu hành,
In kinh để chút nhân lành mai sau.
Lại tìm mã não trân châu,
Tạc nên chuyện tích nhiệm mầu Phật tăng.
Tín gia nhiều kiếp tu hành,
Kiếp làm vua cõi trời xanh trị vì.
Kiếp làm chúa ngục thiết vi,
Đâu đâu cũng hiện từ bi một lòng.
Trải vô lượng kiếp trần hồng,
Kiếp này trị nước ngai rồng rạng oai.
Còn bao vua nước nhỏ đây,
Đời xưa công quả dựng xây chùa chiền.
Phúc lành đầy cõi tam thiên,
Bây giờ gặp Phật hóa duyên đại từ.
Như đêm hiện nguyệt chân như,
Lụy trần sa bỗng khắc giờ đập tan.
Sông xuôi lãng đãng mây vàng,
Về non đào tụ đôi hàng chim bay.

(Còn tiếp)

0 Comments:

Post a Comment

<< Home