Tuesday, February 22, 2005

kinh hiền i

LỜI GIỚI THIỆU
CỦA THƯỢNG TỌA THÍCH TÂM GIÁC

Trong lúc đang bận rộn xây ngôi bảo tháp trong dự án kiến trúc Việt Nam Quốc Tự, thì cơ duyên đưa đến, Tôi được thưởng lãm trọn bộ bản thảo Kinh Hiền của thi sĩ Phạm Thiên Thư, một thi sĩ trẻ tuổi nhưng đã có công lớn đối với nền văn hóa nước nhà. Phạm Thiên Thư đã mở ra một trang sử mới cho nền văn học Phật Giáo Việt Nam trong việc thi hóa kinh Phật và mang giáo nghĩa giải thoát vào thi ca Dân Tộc. Mỗi khi nghe lời thơ Ðạo Ca. Ngâm Ðoạn Trường Vô Thanh và đọc Kinh Ngọc, Kinh Thơ, Kinh Hiền…của thi sĩ họ Phạm, người ta như thể không còn phân biệt nổi biên giới giữa Ðạo và Ðời mà dường như bị thu hút vào dòng sinh lực không gian vô tận dung hóa mọi tư tưởng nhân sinh. Phải chăng, đó là nét đặc thù của Phật Giáo Việt Nam đã hơn một lần chói sáng qua triều đại Lý, Trần.
Qua mười hai ngàn câu thơ lục bát của Kinh Hiền, thi hóa trọn bộ Kinh Hiền Ngu, gồm các truyện tiền kiếp nhân duyên của chư Phật, chúng tôi thấy không những tác giả đã làm sáng tỏ hơn về những tư tưởng trên so với nguyên bản mà Kinh Hiền còn trở nên một tác phẩm đầy sán lạn.
Ở vào thời mạt pháp, con người cần phải nhiều trợ duyên trên bước đường tu học mà văn nghệ chính là trợ duyên cần thiết để Phật tử càng thêm yêu mến và tin tưởng vào con đường giải thoát giác ngộ, lòng yêu mến đó chính là một bảo vật vô giá của con người Phật tử.
Ðể đánh dấu mối duyên với bộ Kinh Hiền trước khi đem ấn hành, chúng tôi hoan hỷ giới thiệu tác phẩm này với độc giả nhất là các quân nhân Phật tử trong nước.
Sự thâu nhận, dung hóa các tinh ba tư tưởng để bồi bổ vào đời sống tâm linh phải chăng là nhiệm vụ của những người con Phật.

Thích Tâm Giác
Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN


LỜI GIỚI THIỆU CỦA THƯỢNG TỌA THÍCH HUYỀN VI

Xem qua bản thảo tập Kinh Hiền của thầy Phạm Thiên Thư, thấy có nhiều công phu thi hóa truyện tích Nhà Phật qua đề thơ lục bát rất uyển chuyển, chúng tôi hoan hỷ cho công việc làm hết sức can đảm và đầy sáng kiến của thầy.

Kinh Hiền Ngu nguyên chữ Sanskrit là Damamù- ka- Nidàna- Sùtra, Trung Hoa dịch là Hhien- Yu- Yin- Yuen- King nằm trong tạp tạng (Samyukta- pitaka) do các Thánh tăng ở Tây thiên Trúc soạn thuật, có tất cả 9 quyển, 46 chương. Tư tưởng Kinh nầy, chúng ta có thể gói gọn trong một bài kệ (gàthà) nhân duyên sau đây:

Ye dharma hetuprabhavà
Hetum tesam tathàgato hyavadaya.
Tesm ca yo nàirodha
Tuam vàdì mahàsramana:

Mọi việc do nhân duyên sanh
Ðến khi tan hoại lẫn quanh theo chiều
Thích Già, một bậc cao siêu
Thường tuyên điệu lý sử nêu muôn đời.

Vì muốn hợp thời, hợp cơ và hợp cảnh, nên thi sĩ đã văn chương hóa triết lý và sử liệu cổ truyền Phật Giáo trong Kinh Hiền Ngu thâu gọn qua 12.000 câu lục bát vừa tràn đầy đạo vị vừa thanh thoát uyên áo, thật là một công trình vĩ đại đối với thời khoa học tân tiến ngày nay.
Ðây cũng là một nhân duyên hy hữu, trong thời gian chúng tôi lưu trú tại viện Ðại Học Vạn Hạnh đã được thưởng thức thi tập này. Ðể tán thán công việc làm đầy sáng kiến và tích cực của Phạm Thiên Thư, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu Kinh Hiền đến với các bạn trong cũng như ngoài nước


THÍCH HUYỀN VI
Giáo sư, Viện Ðại Học Nalanda, Ấn Ðộ
12-7-71.

ĐỀ TỰA CỦA THƯỢNG TỌA THÍCH THANH LIÊM

Giáo lý của Phật Giáo được bao hàm trong ba tạng Kinh, Luật, Luận.Kinh tạng, những bộ ghi chép những lời thuyết pháp do đức Phật nói ra để hóa độ chúng sinh. Luật tạng, những bộ luật quy định về giới điều cho các hàng đệ tử. Luận tạng, những bộ luận bàn rõ về hệ thống tư tưởng và tinh thần vĩ đại của Phật Ðà.

Trên lãnh vực liên hệ đến nghệ thuật văn học, thì Luật tạng và Luận tạng không phải thiếu về bộ môn này, nhưng nó kém phần phong phú hơn đối với Kinh tạng. Vì lẽ, Kinh tạng do đức Phật trực tiếp nói ra, được dựa trên phương pháp chỉ đạo thiện xảo, nên rất đượm nhiều tính chất và giá trị văn học.

Nối tiếp, lại có những bậc kết tập gia lỗi lạc, các ngài có cái tài xếp đặt và tuyển trạch lời văn cho mạch lạc quán thông. Và, sau đó, các nhà phiên dịch đại tài lại khéo biết ứng dụng những từ ngữ phiên dịch để thích hợp với nguyên văn. Do đó cũng là cái nguyên nhân làm cho giá trị nền văn học Phật Giáo phát sinh nảy nở.

Mỗi khi Phật Giáo được truyền vào nước nào thì ảnh hưởng của Phật Giáo đều được thầm nhuần và hòa đồng vào trong mỗi lãnh vực tư tưởng Triết học, Văn học cũng như mọi sinh hoạt hàng ngày của từng nước đó. Phật Giáo được truyền vào Việt Nam ta cũng đã có gần hai ngàn năm lịch sữ nên ảnh hưởng của Phật Giáo cũng đã được in sâu vào tâm khảm của mọi tầng lớp quốc dân.

Ý thức được trách nhiệm truyền đạt phần tư tưởng siêu việt của Phật Giáo phổ cập đền mọi tầng lớp dân gian, nên thầy Phạm Thiên Thư đã mạnh dạn thi ca hóa Kinh Hiền Ngu (DAMAMUKA- SUTRA) được gọi tắt là “Kinh Hiền” của Phật Giáo qua thể thơ lục bát. Trong kinh có đoạn:

“ Phật rằng: kiếm cũng như lời
Một câu, một nhát hại người như chơi
Kiếm thì hủy một phần thôi
Lời sai hại đến muôn đời mai sau
Từ bi là cách nhiệm mầu
Tùy duyên bất biến có đâu ngại ngần
Kiếm dùng ngăn ác phù chân
Lời dùng giải oán chúng nhân mọi đường”

Ðọc mấy vần thơ trên, tuy những lời văn không trau chuốt như “Kim Vân Kiều”, nhưng nó là những lời văn diễn tả một cách trung thực khiến cho người đọc dễ nhớ hiểu mau, thì đó cũng là một nghệ thuật phổ biến giáo lý của Phật Ðà qua phần thi ca.

Ðối với địa vị kinh điển của Phật Giáo, kinh Hiền Ngu thuộc bộ phận “thí dụ” hoặc “Nhân duyên” là một trong mười hai phận giáo kinh điển.

Nội dung của kinh này, gồm có những mẩu chuyện ghi chép về tiền thân của đức Phật ở đời quá khứ có liên hệ tới hiện taị, hoặc ở đời hiện tai có kiên hệ đến quá khứ, cùng là những truyện được Phật hóa độ, được Phật thu ký, và những chuyện khuyến thiện trừng ác v.v…
Về kỷ thuật thuyết minh những cốt truyện thì dựa trên căn bản nhân duyên hoặc thí dụ, thiện nghiệp và ác nghiệp. Căn cứ vào những phần tướng của thiện và ác nên mới có hiền và ngu, Vì vậy nên tên kinh gọi là Hiền Ngu, nay gọi tắt là “Kinh Hiền”.

Kinh Hiền này ra đời không những chỉ bổ ích trên phương diện sinh hoạt hóa Phật Giáo qua phần thi ca, mà còn là một viên gạch quan trọng góp phần xây đắp vào nền văn học Phật Giáo Thế giới và Dân Tộc ngày thêm phong phú.


Nay tựa
Phật lịch 2515, Saigon, ngày 23-5 năm Tân Hợi

THÍCH THANH LIÊM
Trụ trì Tổ đình Vĩnh Nghiêm
Tiến Sĩ Đại Học Phật Giáo Nhật Bản


Khơi lò trầm thanh tịnh
Ngâm dòng thơ cúng dường
Hào quang mười phương Phật
tỏa áng kinh hiền lương
Nguyện ba thời cõi pháp
Tuyên lưu giải thoát hương

NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT MA HA TÁT








HỘI PHẬT DƯỚI HOA

Chính tôi nghe kể một thời;
Bên thành Xá Vệ giữa nơi đạo trường.
Vì nguyện độ chúng mười phương,
Cùng vào trí Phật, lòng thương vô bờ.
Trải bao năm lắng tâm tu,
Nằm sương, gối cỏ cho dù khổ đau.
Giơ tay xô đổ thành sầu,
Dứt tham, mê, giận, tâm mầu niệm khai,
Phật ngồi trên nệm cỏ dài,
Hào quang vô lượng cõi ngoài sáng soi.
Hoa thơm khắp mấy tầng trời,
Cúng dường trải xuống quanh người trầm tư.
Thương chúng sinh chốn ao tù,
Ðảo điên ý nghiệp, mịt mù vọng tâm,
“Mà đây chính đạo cao thâm,
Nói ra người chấp mê lầm, chẳng tin.
Chi bằng ta nhập Niết Bàn,
Thiền oai, nguyện lực, chuyển đàng vọng mê”
Biết Phật dưới cội Bồ Ðề.
Phạm Thiên Vương thoắt hiện về dưới hoa
Chắp tay, dòng lệ nhạt nhòa
Bạch thầy: “nỡ bỏ Ta Bà đi sao?
Chẳng khai hóa đạo nhiệm mầu,
Chúng sinh rồi biết nương đâu trở về!
Ðành quên nguyện lớn xưa kia,
Cứu đời thoát khỏi lầm mê, đọa đầy.
Kể từ lập cõi cao dầy,
Sáng nay muôn loại có ngày vàng son,
Xin vì tha thiết lòng con,
Ngài khai chính đạo, cho tròn hạnh duyên
Phật truyền: “Ðáng bực chúa Tiên,
Lòng ông thương trải khắp miền thế gian.
Ý tôi muốn nhập Niết Bàn,
Nói chi thêm để trần hoàn chấp nê.”
Bạch Thầy: “Hạt chắc Bồ Ðề,
Muôn lao ngàn khổ có nề hà chi!
Dù chúng sinh đắm mê si,
Sen thơm kia hẳn cũng vì đầm tanh?
Nhớ xưa trải mấy cao xanh,
Ngài từng góp nhặt pháp lành dài lâu.
Quên thân mạng để tìm cầu,
Ðạo vàng, Luật ngọc cao sâu nghìn trùng.
Gương vô lượng kiếp còn trong,
Sáng soi như mặt trời hồng cõi Tiên.”
GIỮA ĐÀI MÂY TỎA

Rằng xưa có một vua hiền,
Trần- Lan- Ba, ấy là tên họ nhà.
Ngài trị châu Diêm Phù Ðề,
Khắp muôn cõi nước theo về cậy trông.
Vương phi trăm tía ngàn hồng,
Ðại thần, một vạn quan trông nước trời.
Thái bình, an lạc nơi nơi,
Mưa hòa, gió thuận, lòng người hoan ca.
Một sớm vua dạo xem hoa,
Mgắm sương từng hạt vừa sa chói ngời.
Thoáng đâu về gợn gió trời,
Chùm sương như thể rụng rơi lệ vàng.
Nhà vua ngộ lẽ vô thường,
Hỏi thầm đời khác chi sương khói này.
Mà người đắm giấc mê say,
Cuốn theo như gỗ mục, sóng nhồi,
Sinh, già, bệnh, chết, đời đời chuyển xoay.
Nhủ lòng: ta phải tìm ngay,
Con đường thoát khổ, đưa người qua sông.
Sáng sau chim mới gọi Ðông,
Nhà vua hoa ướp, trầm xông sạch mình.
Trên bệ ngọc giữa triều đình,
Ân cần vua ngỏ chân tình thiết tha:
“các khanh hãy chỉ dùm ta,
Con đường cứu khổ giúp nhà giúp dân.
Cầu chi, ta chẳng ngại ngần.
Dù ban vàng ngọc như trần sa kia.”
Lệnh vua truyền khắp sơn khê,
Tin đi đã lắm, tin về còn lơi.
Năm sau một vua trên trời,
Tứ thiên, hiện xuống cõi đời, xem qua.
Liền biến thành quỷ Dạ Xoa,
Mặt xanh mắt đỏ như là máu tươi.
Nanh nhe, tóc dựng, rợn người,
Mồm phun lửa đỏ, nói cười lao xao.
Trình rằng: thần biết đạo mầu,
Vua nghe lóng bặt ưu sầu, ra nghinh
Trà ban mấy chén ngọc quỳnh,
Suốt đêm kề nguyệt chân tình hỏi han.
Sáng sau kiệu ngọc, tàn vàng,
Rước thầy lên ngự pháp đàn trầm sa.
Mây hồng phấp phới quanh tòa,
Muôn dân tụ lại trải hoa cúng dường.
Gối quỳ đảnh lễ pháp vương,
Nhà vua bệ dưới trầm hương thỉnh cầu.
Thầy truyền: muốn học đạo mầu,
Hãy dâng Hoàng Hậu, con đầu ta ăn.
Ai nghe, chẳng hãi vô ngần,
Riêng vua hoan hỷ, lui chân xuống tòa.
Ngỏ cùng con ngọc, vợ hoa:
Hy sinh là đạo đức nhà trị dân.
Muốn cầu chính đạo độ nhân,
Lễ thầy, cần đến tấm thân hai người.
Cúi đầu Hoàng Hậu nghẹn lời,
Dắt tay Thái Tử lên nơi đạo trường,
Giữa tòa nghi ngút trầm hương,
Thầy ăn một thoáng máu xương chẳng còn.
Người quanh xiết đỗi kinh lòng,
Xót thương, ai chẳng dòng dòng lệ sa.
Cỏ sầu cũng héo dung hoa,
Mây sầu mấy giải quanh tòa vấn tang.
Pháp Sư cao giọng ngâm rằng:
“Thế gian tan hợp thường hằng như mây.
Sinh ra khổ cực đọa đày,
Năm ngăn, không tướng, hợp vầy duyên sinh.
Thân ta xương máu một bình,
Của ta: cũng lại muôn hình tướng không”.
Vua nghe như cởi tấm lòng,
Truyền đem sao chép dán cùng nơi nơi.
Pháp sư sắc diện sáng ngời,
Tự nhiên hiện tướng tuyệt vời cõi tiên.
Quý thay! Ta gặp vua hiền,
Biết thờ chính pháp, ưu phiền sạch không.
Chẳng còn bao kiếp trần hồng.
Ngài thành Phật đạo, sáng lòng từ bi.
Vua trời cưỡi hạc bay đi,
Lạ thay! Thái Tử hiện kề phu nhân.
Xin thưa: chính bực vua hiền,
Kiếp xa xưa đó là thân trước ngài.

NGÀN NGỌN HƯƠNG DÂNG

Ngày xưa lại cũng châu này,
Một vua hiền đức là ngài Lý Sa.
Trị muôn cõi nước gấm hoa,
Bốn phương như thể một nhà an vui.
Thái bình thịnh trị nơi nơi,
Dân coi như thể như người cha yêu.
Ngài thường sớm tối đăm chiêu,
Cái thân hoại khổ diễm kiều mà chi.
Gieo nhân lành kiếp xưa kia,
Trăm năm phước báo, còn gì nữa đây.
Làm sao tận diệt khổ này,
Ðộ mình đến khắp muôn người qua sông.
Một hôm vua ngự bệ rồng,
Lệnh truyền đến khắp muôn vùng dân gian.
Cầu người, chứng ngộ đạo vàng,
Phò vua giáo hóa con đàng nhân sinh.
Ban cho phú quý hiển vinh,
Ðất đai muôn dặm ngọc vàng muôn xe.
Một hôm có khách phương xa,
Tính danh người nọ xưng là Ðỗ Sai,
Ngựa dừng yên trước thành ngoài,
Quý tâu: xin hiến một vài pháp môn.
Vua hiền rất đỗi vui mừng,
Tự tay đỡ dậy thân tình hỏi han,
Dốc vò ngự tửu thưởng ban,
Cấp riêng lầu ngọc huy hoàng gấm hoa.
Lại truyền dựng một pháp tòa,
Hôm sau cung thỉnh Thầy ra đạo trường.
Vua quì dưới bệ dâng hương.
Cầu xin mở đức dẫn đường chúng nhân.
Sư rằng diệu pháp chinh chân,
Muốn nghe vua phải muôn phần tôn nghinh.
Khoét ngàn lỗ thịt trên mình,
Ðổ dầu, đốt ngọn lửa minh thần này.
Vua nghe, hoan hỷ nhận ngay,
Khất sư cho phép bẩy ngày sửa sang.
Sứ truyền rao khắp nhân gian,
Dân hay đại nguyện cúng dàng nhà vua.
Việc chưa hay thấy bao giờ,
Dù năm biển lớn sao vừa nguyện kia.
Ai nghe, lệ chẳng đầm đìa,
Ngựa xe như nước tràn về bỗng dưng.
Quạt tàn như núi như rừng,
Dâng lên sớ thỉnh xin đừng hoại thân.
Còn ai lo nước lo dân,
Bầy con dại thiếu mẹ hiền được đâu.
Vua chiêu an: “chớ buồn rầu,
Trẫm dâng thân mạng tìm cầu pháp tu.
Dẫu rằng vạn kiếp phù du,
Nguyện đem chính đạo đền bù các ngươi.”
Ý vua đã quyết chẳng dời,
Thần dân khắp một gầm trời ủ ê.
Ðến ngày hủy mạng cầu sư,
Vua quỳ dưới bệ dáng như núi trầm.
Cầu nghe diệu pháp cao thâm,
Khoét thân, thắp bấc cúng dâng lửa thần.
“Tôi xin hủy giả hiệp thân,
Cầu xin tịnh đạo cứu dân, độ đời.”
Cầm dao vừa khoét một hồi,
Ai ai mà chẳng rụng rời khóc than.
Vua rằng: lửa thắp, hồn tan,
Trước xin thầy mở tháp vàng độ tôi.
Pháp sư: ngâm giọng bồi hổi,
“Thường rồi đều hết, cao rổi thấp ngay.
Hợp tan một thoáng mây bay,
Vừa sinh thoắt đã đến ngày tử vong.
Nhà vua cung kính nghe xong,
Tự tay châm lửa, thân rồng an nhiên.
Khởi lòng thanh tịnh vua nguyền:
Khổ thân để dứt triền miên khổ tình.
Ðốt thân cầu lửa trí minh,
Phá ngu si cứu chúng sinh mọi loài.
Nguyện vua chuyển cả cung trời,
Thần tiên hiện xuống quanh nơi lửa hồng.
Tàn hoa che kín hư không,
Kim thân Bồ tát dốc lòng cầu sư.
Lệ tiên nhỏ xuống thành mưa,
Ngàn hoa theo gió cũng đưa hương về.
Vua trời Ðế thích hầu kề,
Rằng: Ngài quyết vượt sông mê, qua dòng?
Bây giờ, nuối tiếc chi không,
Vua cười: phát nguyện một lòn không hai.
Thiên vương gặng hỏi: Thưa ngài,
Lấy gì chứng cớ cho lời nguyền kia?
Nghe xong, vua phát lời thề:
“Tâm tôi như trước chưa hề chuyển lay,
Thí xin lỗ tẩm dầu này,
Trên thân xác lại vẹn đầy như xưa.”
Lòng thành cảm đến Phật thừa,
Quán Thế Âm hóa giải mưa biến thần.
Chợt nhìn ngọn lửa trên thân,
Nở thành sen quý xanh ngần cành hương.
Lòng như ngọc, trí như gương,
Sáng như nhật nguyệt chân thường như lai.
Thưa rằng: vua đó là ngài,
Ðốt thân để sáng muôn loài si mê.

HỦY THÂN CẦU ĐẠO

Lại nghe một thuở xưa kia,
Cách vô lượng kiếp Phù Ðề châu nay.
Có nước hào rộng thành dầy,
Có non hoa tía ngày ngậm sương.
Lá nơi thạch động mây vương,
Bên dòng suối bạc, cạnh nương liễu đào.
Năm trăm tu sĩ thanh cao,
Ẩn trong động núi tiêu hao tháng ngày.
Ông Phạm Ngọc Lan là thầy,
Dù theo tiên đạo vui vầy trúc mai.
Lại thường cầu đạo Như Lai,
Gót chân mài khắp phương trời biên cương.
Tìm nơi động khói rừng hương,
Ý mong gặp đấng pháp vương một lần.
Ngày kia có vị đạo nhân,
Áo gai mình bạc dừng chân động ngoài.
Quẩy thêm túi xách trên vai,
Tuyết pha mày bạc, hoa cài tóc thưa.
Rằng: là cơ pháp duyên xưa,
Muốn cầu giải thoát qua bờ trần sa.
Bút dùng chì chẻ xương ra,
Giấy dùng thì lóc da ngà trên vai.
Cắt máu chép pháp Như Lai,
Ðó là đại nguyện của người cầu tu”.
Rập đầu lễ tạ đại sư:
Thầy đem ánh sáng đại từ xuống đây.
Thân con nghiệp chướng sâu dày,
Quẩn quanh sáu nẻo dãy đầy vô minh.
Duyên may thoát kiếp phù sinh,
Dù cho trả cái giả hình mê tân.
Rồi cầm dao tự hủy thân,
Lóc da vai, chặt một chân tức thì.
Bút xương chấm máu đầm đìa,
Ngàn hoa dường cũng thân lìa hồn tan.
Thầy ngồi dưới cội lau vàng,
Sau lưng như dựng mấy hàng ngọc tram.
Môi như sen thắm trong đầm,
Tiếng ai như thoảng hương trầm dâng xanh.
“Phải thường thâu nhiếp tâm hành,
Sát- dâm- trộm-dối: bốn nhành sông lơi.
Xa lìa tà kiến, vọng lời,
Là Bồ Tát hạnh cứu đời tham mê.
Chép xong tâm kệ bồ đề,
Nhìn lên sư hóa thân về phương nao.
Giải mây ngũ sắc trên cao,
Thinh không thoảng tiếng hạc nào lên tiên.
Rồi đêm mấy lá kinh hiền,
Chiếc thân tấp tểnh quanh miền hóa khai.
Ðộ người mê tỉnh trần ai,
Vất vơ sinh tử, lạc loài khói mây.
Ngọc Lan xưa lại về đây,
Xả thân vì nghiệp sâu dầy chúng sinh.

CHIM TIÊN CẦU ĐẠO

Lại thưa cũng ở châu Diêm,
Thủa xa xưa có vua hiền Tạ Thi.
Núi sông nghìn cõi quy về,
Triều đình, Vương quốc Bạt Ðề cậy oai.
Lúa ngô xanh ngát chân trời,
Miền miền an lạc, người người âu ca.
Ơn vua thắm cỏ tươi hoa,
Dù nơi hải giác thiên nha cũng từng.
Mỗi lần thức giấc nghe sương.
Vua thường suy nghĩ tìm phương giúp đời.
Mỗi chiều ngó nắng vàng rơi,
Nhà vua tự kiểm ý lời ngày qua.
Nghiệp lành gió thuận mưa hòa,
Chim vui tiếng hót la đà triền miên.
Ngày kia Ðế Thích vua tiên,
Tới hồi nghiệp tận ưu phiền dung hoa.
Cận thần có vị xem qua,
Tâu lên: khí sắc sao mà khác xưa?
Vua rằng: khanh đã hay chưa,
Ðêm qua sao rụng báo giờ tử vong.
Tiếc thay sống cõi trần hồng.
Như Lai chẳng gặp thỏa lòng y nương.
Mà thân móc đọng sương vương,
Biết đâu chính pháp soi đường tịnh tu.
Thưa ngài: dưới cõi Diêm Phù.
Vua Tạ Thi nọ duyên tu đạo vàng.
Bồ Tát hạnh hóa nhân gian,
Xóa bờ nhân, ngã, một đàng trí bi.
Nếu ngài tới đó quy y,
Viên thành Phật đạo ngại gì tử vong.
Vua truyền quả đúng như lòng.
Thì muôn nghìn cõi mây hồng cũng qua.
Thử xem người có hơn ta,
Nhập thâm giáo lý Phật Ðà cao sâu
Vậy khanh hóa làm chim câu,
Ta làm chim cắt đuổi nhau mấy vòng.
Tới nơi điện ngọc thành trong,
Nhà ngươi đậu nấp mình rồng áo mây.
Cầu vua cứu thoát nạn này,
Còn ta sẽ hỏi xin người lại ăn.
Xem ngài giải quyết sao đành,
Ðôi bên cho được đẹp lòng đôi bên.
Thử lòng vàng đá cương kiên,
Xem ra đáng bực đại hiền sẽ nương.
Nói rồi giữa cõi mây vương,
Một đôi chim nọ thẳng đường tung bay.
Thoáng thôi, lầu các hiện đầy,
Vàng châu lấp lánh như bầy sao sa.
Chim câu đáp xuống thềm hoa,
Nhà vua đang ngự trên tòa thưởng hương.
Chim câu gọi: bớ đại vương,
Cứu tôi thoát khỏi tai ương lần này.
Chim cắt đậu trên cành cây,
Cũng thưa: xin trả vật này cho tôi.
Vua nghe dạ những bồi hồi,
Xót thay nợ máu bao đời trả vay.
Truyền rằng: nguyện cứu muôn loài,
Lẽ đâu ra đuổi chim này mi ăn.
Cắt kêu: ngài xét cho minh,
Tôi không phải loại hữu tình hay sao?
Ðói thịt tươi, khát máu đào,
Cứu chim kia lại nỡ nào hai tôi.
Vua rằng: gạo trắng trái tươi,
Cứ gì máu thịt một loài ăn nhau?
Cắt thưa: tập nhiễm dầy lâu,
Người kia đâu khát lệ sầu máu hôi?
Tôi tìm thịt để ăn thôi,
Người giết nhau để mua cười ích chi?
Vua trầm nét mặt từ bi,
Cứu hai mạng sống đền nghì thân ta.
Ngài rằng: xin thế thịt da,
Nếu ưng, sẽ lóc thịt ra đền bồi?
Cắt thưa: thì cũng chiều lời,
Ðổi sao cho xứng thịt người thịt chim
Lưỡi dao cắt thấu con tim,
Bên đùi tách miếng thịt in máu hồng
Ðặt lên một đĩa cân đồng,
Lạ thay! khối thịt nhẹ bồng hơn chim.
Vua liền lóc cả đôi chân,
Thịt da sao đọ phép thần cho đang.
Bên chim nặng tựa non vàng.
Xương da nào dễ so bằng lượng kia.
Nén đau nhích lại gần kề,
Phục lên đĩa nọ đầm đìa máu tuôn.
Lạ sao!vẫn nhẹ như thường,
Nhà vua ngã xuống chân tường mê man.
Hiên rồng một vũng máu loang,
Chừng nghe lãng đãng mơ màng khói sương.
Nghĩ thân lẫn quất vô thường,
Cánh béo nhân ảnh sáu đường nổi trôi
Vì tham mạng sống khôn dời,
Giữ mình nên hại muôn loài kể chi.
Rốt thôi, nắm cỏ xanh rì,
Ðất trời kia hòi còn gì bóng mây.
Trải ra bón cỏ đơm cây,
Tự thân xả nắm bụi này dễ đâu.
Quyết vượt ngã chấp dày lâu,
Hiến mình đổi mạng chim câu một lần.
Là đường thể nhập pháp thân,
Mười phương thế giới chuyển vần trăng sao.
Bỗng dưng tỉnh giấc mộng đào,
Mắt như nhật nguyệt rực hào quang soi.
Ðứng lên dũng mãnh tươi cười,
Bước đi mỗi bước cung trời ngã nghiêng.
Gió thành đàn sáo thiên tiên,
Vi vu reo nhạc quanh miền thành hoa.
Lệ thần cũng thoáng mưa sa,
Hồ như rụng ngọc rơi ngà đó đây.
Dù cho trời rộng đất dày,
Ngàn năm muốn có chuyện này dễ đâu,
Xả thân chuộc mạng chim câu,
Còn chăng ánh sáng nhiệm mầu đại bi.
Lòng thành nhiếp phục chim kia,
Hiện ra nguyên dạng một vì thiên vương,
Gối quỳ lạy trước thềm hương,
Tôi từ Ðao Lợi tìm đường qua đây.
Biến làm chim cắt thử ngài,
Lòng từ kia hẳn vượt ngoài cõi mê.
Kiếp sau thành đạo Bồ Ðề,
Ứng thân ba cõi đi hóa khai.
Tay tiên như búp hoa dài,
Lậy xong cõi đất tỏa ngời hào quang.
Nghìn bông sen ánh hồng vàng,
Giữa hư không trải theo hàng phượng qua.
Cành mầu che khắp ta bà,
Dựng nên một chiếc quạt hoa diệu vời.
Mấy từng mây khói chơi vơi,
Phật Di Ðà ngự đỉnh trời ngó trông.
Hoa thơm phủ khắp thềm rồng,
Thân vua nguyên vẹn như hồng như mai.
Tạ Thi xưa chính là ngài,
Trải muôn ức kiếp khai bầy cõi mê.

TRĂM CON HẠC TRẮNG

Ngày xưa châu Diêm Phù Ðề,
Có vua thánh trị là Lê Thái Bình.
Núi sông hung vĩ quang vinh,
Hậu cung rực rỡ muôn cành sắc hương.
Với bao hoàng tử siêu phàm,
Lại thêm văn võ bách quan trung thành..
Phồn hoa lầu các như tranh,
Ðồng quê thảm lúa trải xanh mượt mà.
Ơn cao thắm đượm nhà nhà,
Bốn phương trong cảnh thái hòa an vui.
Xe vua thường dạo khắp nơi,
Miền sông biển, chốn rừng đồi ngại chi.
Tìm nghe chính pháp từ bi,
Giúp nền giáo hóa, trị vì năm châu.
Lại đêm yết bảng tìm cầu,
Ðón người đắc pháp nhiệm mầu chánh chân.
Một hôm có bậc đạo nhân,
Từ non cao xuống trước sân khấu đầu.
Rằng: “tôi tu học dầy lâu,
“Nhập thâm phật lý nhiệm mầu, ghé chơi”.
Nhà vua hoan hỉ đón mời.
Lập đàn thuyết pháp giữa nơi ngoại thành.
Tin truyền đến khắp vùng quanh,
Ai mong nghe pháp, trọn lành đều qua.
Ðến ngày khai mở đạo tòa,
Nhà vua quỳ dưới thiết tha ngỏ bày:
Rằng: Tôi mê chấp sâu dày,
“Duyên may lại gặp được thầy độ cho”.
Sư rằng: “đáy bể khôn dò,
Biết ai mà quyết nương đò qua sông.
“Mà, ôi! biển khổ mênh mông,
“Nếu chưa đại lực đại hùng khó sang”.
“Thân rồng, xin đóng đanh vàng,
“Một trăm chiếc thử đá vàng xem sao”.
Vừa nghe đại chúng nhôn nhao,
Nhưng vua dưới bệ gật đầu kính vâng.
Bẩy ngày sao hẹn xin dâng,
Tin truyền xóm trúc thôn rừng đều hay.
Cáo rằng: “Trẫm hủy thân này,
“Quyết tìm đạo lớn chuyển xoay vận đời.
“Nguyện đóng trăm đinh trên người,
“Phát tâm dũng mãnh lời cầu chính chân”.
Tin nghe xúc động lòng dân,
Kéo về từ khắp thành gần làng xa.
Non cao cũng rũ giang hà,
Sông buồn nước cũng la đà sóng xô.
Ngựa xe dàn chật kinh đô,
Ðêm dong đèn đuốc mơ hồ bốn bên.
Người chung một ý tâu lên.
Chúng con thay mặt muôn miền gấm hoa.
“Ơn vua trải mấy sơn hà,
Chăn dân là mẹ quốc gia là vì.
Thánh hoàng nay bỏ ra đi,
Rồi muôn cõi nước còn gì ngưỡng trông.
Ðể mà noi tấm gương trong,
Bốn phương giữ mãi trong vòng anh em.
Xin trên thương xót con hiền,
Ở ngôi nhật nguyệt giữ gìn muôn dân”.
Lại thêm hoàng tộc quần thần,
Rập đầu thềm ngọc muôn lần khóc can.
Vua rằng: “chớ bi than,
Trong cơn trướng mộng muôn vàn tử sinh.
Dòng sông hư ngụy chưa đình.
Chiếc thân bọt nổi mặc tình sóng đưa.
Thân ta từ kiếp xa xưa,
Chất nên cho đến bây giờ thành non.
Máu xương góp chảy đá mòn,
Lệ xưa, đọng lại nay còn sóng lay.
Cũng vì tham vọng mê say,
Uổng bao kiếp sống đọa đày trần gian.
Trẫm nay phát nguyện cúng dàng,
Hủy thân cầu đạo, tuyệt đàng tử sanh.
Nguyện thành Phật phá vô minh,
Thề dìu dắt chúng hữu tình qua sông.
Việc này vì lợi ích chung,
Gác bi oán nọ, xin đừng can chi.
Thần âm đã chuyển mê kia,
Lệ người còn chảy đầm đìa áo tơ.
Hôm sau vừa sáng tinh mơ,
Hoa thơm trải khắp đường mờ sương bay.
Ngựa xe chật cứng thành ngoài,
Mười phương tụ lại quanh đài trầm lan.
Nhà vua lên đỉnh pháp đàn,
Thỉnh nghe pháp trước, đanh vàng đóng sau.
Ðạo hiền tụng biến mưa mau:
“Thế gian như thể dưới cầu nước xuôi.
Vô thường chuyển khắp trời người,
Sinh ra khổ lụy nào rời tấm thân.
Cõi đời, ôi! Áng phù vân,
Hợp tan, tan hợp bao lần có không.
Thân ta một nắm bụi hồng,
Khác chi lòng suối in dòng chim bay.”
Nghe xong diệu pháp khai bày,
Chép kinh thơ nọ sai người tụng rao.
Trăm đinh trăm ngọn máu đào,
Khóc lên dậy đất, lệ trào nát hoa.
Ðức vua mặt vẫn hiền hòa,
Sáu lần chuyển động mây lòa hào quang.
Thần tiên hiện trải hoa hương,
Cảm vì đức lớn cúng dường cao sâu.
Vua trời Ðế Thích rầu rầu,
Hỏi rằng: “Ngài nguyện mai sau làm gì?
Ma vương- hay Phạm vương ư?
Thánh vương- Ðế Thích? nguyện từ hôm nay
Vua rằng: “hủy giả thân này,
Nguyện thành Phật đạo cứu người đảo điên.
Chẳng cầu phúc báo nhân thiên,
Tử sinh ba cõi, dưới trên xá gì”.
Vua trời lại tỏ lòng nghi:
Thân đau ngài có còn gì hối không?
Xin thưa: “Nguyện tựa vàng ròng,
Như chim hồng lạc thoát vòng gió mây.
Thế gì bằng cớ chi đây?
Chứng cho lời nguyện cao dầy làm tin.
Nhà vua nghe lại thề nguyền:
“Giờ xin vô lượng vô biên chứng giùm.
Nếu con sau trước một lòng,
Thì cho nguyên vẹn mình rồng xưa nay”.
Hào quang sáng rực phương mây,
Ðịnh thành trăm cánh hạc bay trắng ngần.
Lại lành nguyên cả châu thân,
Tiếng reo dậy đất quân thần ngợi ca.
Bạch thầy tâm nguyện sâu xa,
Thái Bình kiếp trước chính là người xưa.
Lòng như biển lớn vô bờ,
Thân như mây trắng vật vờ hư không.
Chí như nghìn ngọn thác hồng,
Phá tan tập kiến một lòng từ bi.

HOA ĐƠM HỐ LỬA

Bạch thầy: một kiếp xưa kia,
Lê Thiên vua cõi Phù Ðề châu Diêm.
Hạ sinh thái tử ngoan hiền
Muôn muôn cõi dậy Lê Kiền danh thơm.
Thiên năng trí tuệ phi thường,
Riêng nơi động núi hoa vườn tĩnh tâm.
Lòng ưa chính pháp cao thâm,
Thường đi khắp nước suy tầm đó đây
Kể gì Nam, Bắc, Ðông, Tây.
Tìm đạo giải thoát khai bầy trí minh.
Giúp cho dân nước thanh bình,
Tấm thân dầu giãi mặc tình gió sương.
Mải mê tìm đạo chân thường,
Hương pha áo cỏ mây vương gót lành.
Lòng ngài cảm đến cao xanh,
Vua trời Ðế Thích hiện thành đạo nhân.
Một chiều quảy gót phù vân,
Hương bay mình bạc, mây ngần dáng hoa
Gót dời lãng đãng mưa sa,
Tiếng như suối ấm la đà rừng thu.
Thành ngoài ghé bước vân du,
Truyền khai lẽ sáng, pháp tu đạo lành.
Danh thơm đồn đãi vùng quanh,
Một chiều Thái tử vượt thành tìm nghe.
Bên rừng đôi mái nhà che,
Ðạo sư thiền tọa trên hè cúc lan.
Vừa nhìn dáng hạc tiên nhan,
Pháp mầu tỏ ngộ bàng hoàng tâm mê.
Thương mình si đắm chưa lìa,
Trăng lên lệ vẫn đầm đìa giọt ngân.
Về thành tâu lại phụ thân.
Dựng đàn bầy báu đủ phần uy nghi.
Thái tử thân kéo xe đi,
Lọng tàn giát ngọc lưu ly chói lòa.
Suốt đường trải gấm phơi hoa,
Hai bên mỹ nữ đàn hòa sáo vang.
Thỉnh sư về ngự thiền đường,
Có tòa mã não, có giường bích châu.
Chọn ngày mở tạng kinh mầu,
Vượt sông tham dục, dựng cầu thanh tâm.
Sáng sau nắng mới hoe vầng,
Chim muôn sắc tụ hót mừng huệ khai.
Mây hồng tía khắp phương ngoài,
Kết thành tán gấm trải dài hư không.
Nhạc thần cũng tự không trung,
Êm êm như thoảng mấy từng hoa vương.
Thái tử quỳ trước án hương,
Chắp tay đảnh lễ tỏ tường trình thưa:
Thân con ở chốn mê mờ,
Tấm hình bọt sủi vật vờ sóng lay.
Bây giờ được gặp duyên may,
Xin ân đức lớn khai bày chân thân.
Ba phen cầu thỉnh ân cần,
Sư rằng: “Mối đạo suy tầm dầy lâu.
Trải bao nắng ải mưa dầu,
Ngó non mây nổi, soi cầu nước xuôi.
Gối cây, chiếu cỏ, màn trời,
Cơm rau nước suối ẩn nơi động thần.
Ngài muốn cầu đạo độ dân,
Phát tâm phải dứt hồng trần nghiệp duyên.
Trước lo mình sạch ưu phiền,
Sau vì mê khổ nhân thiên độ trì.
Nếu ngài quyết diệt tham si,
Cầu tâm đạo chớ tiếc gì giả thân.
Cho đào hố nhóm than lên,
Nhẩy vào lửa để dứt liền tóc tơ”.
Việc chưa từng thấy bao giờ,
Vừa nghe, ai chẳng, sững sờ ngó trông.
Chỉ riêng Thái tử thuận lòng,
Phụ vương, mẫu hậu tuôn dòng lệ can.
Sao con nỡ hủy thân vàng!
Chẳng lo gánh vác giang san sau này,
Ngai rồng ai sẽ lên thay,
Kho tàng châu báu vơi đầy uổng đi.
Lại bao lân quốc nể vi,
Vẫn hằng cầu khẩn hiện về thành vương.
Mẹ, cha giờ tóc điểm sương,
Tuổi già còn biết đâu nương ngày thừa.
Nghe lời lệ nhỏ như mưa,
Chàng quỳ dưới gối , giọng thưa rầu rầu:
“Thân con nghiệp lụy dầy sâu,
Tử sinh như bọt dưới cầu réo sôi.
Kể từ vô thủy luân hồi,
Nương lòng tham dục sáu loài quẩn quanh.
Dù muôn tuổi thọ thiên đình,
Dù mang kiếp sống mỏng manh nhân hoàn.
Dù hầm ngục lửa kêu than,
Ðọa thân ngạ quỷ vô vàn khổ đau.
Dù làm kiếp ngựa kiếp trâu,
Bò- bay- máy- cựa cũng sầu khổ thay..
Nay con được gặp duyên may,
Cầu diệu pháp cứu muôn loài tham si.
Kiếp phù du có kể gì,
Nguyện thành đạo lớn chuyển mê độ đời”..
Song thân mấy đức tuyệt vời,
Còn đâu mong chuyện đổi dời tâm tư.
Ðến ngày cung thỉnh đạo sư,
Pháp đàn hoa kết, ngọc lư ùn trầm.
Vây quanh tàn quạt quần thần,
Dưới đàn ngọn lửa cũng dần bốc cao.
Từ xa nổi tiếng khóc gào,
Nghe ra ai chẳng nao nao tấc lòng.
Ngài quỳ trên thảm gấm hồng,
Vừa coi tưởng lả một bông tuyết trời.
Cần nghe chinh giáo diệu vời
Gió lay hoa chợt rụng rơi cánh vàng.
Ðạo sư cao giọng ngâm vang
Lời thơ hồ tưởng gieo vàng rơi châu.
Rằng: “sinh tử nước xuôi mau
Chết trong thây sống tham cầu mà chi!
Một lòng tâm khởi trí bi
Trừ sân, tưởng hại huyễn mê nào còn.
Lấy chúng sinh làm thân mình
Dù mười phương lớn cũng hình thể tâm.
Tu hành làm chốn vui mừng
Khiến tam thế mộng tưng bừng ánh dương.
Giúp người vượt thoát mê trường,
Là tâm Bồ Tát yêu thương độ đời.
Nghe xong thái tử mừng vuil,
Truyền đem sao chép sai người tụng rao
Rập đầu lễ trước đài cao,
Thì từ đâu tiếng khóc gào dấy lên.
Phạm Thiên Vương đứng chờ bên,
Cầm tay Thái tử Lê kiền hỏi han.
“Vị gì nhảy xuống hố than,
Hiếu tâm đã bỏ ngai vàng thì sao?
Chi bằng nước mạnh dân giàu.
Nệ gì pháp kệ nhiệm mầu này thôi”.
Thái tử rằng: “chớ can tôi,
Cũng vì thương chốn luân hồi mê sân.
Vả chăng nghĩa lợi phù vân,
Ngọc vàng nào chữa tâm thân bệnh dầy.
Nguyện đem đạo lớn độ đời,
Nguyện thiêu thân để thức người trần lao”.
Dứt lời từ đỉnh đàn cao,
Như hoa nguyệt quế gieo vào lửa thiêng.
Nguyện người chuyển khắp cõi thiên
Hào quang như tỏa một miền trăng soi.
Lạ thay hầm lửa ngút trời,
Biến thành ao ngọc sáng ngời lưu ly.
Một bông sen nở diệu kỳ,
Gió thơm thoảng sạch sân si lòng người.
Thái tử ngồi giữa hoa cười,
Ánh mây hồng tía lưng trời vừa sa.
Tiếng hò reo nổ tung ra
Tin vui đến khắp muôn nhà ngợi khen.
Ðại sư biến thành vua tiên
Thưa rằng như đóa hồng liên đại hùng.
Lòng thương ngài thật vô cùng
Quyết sau thành đạo qua sông mê trường.
Vua xưa là Tịnh Phạn Vương
Hoàng hậu ngày đó là thân mẫu ngài.
Thái tử chính đức Như Lai
Ơn đâu suốt cả đất trời còn vang.
Tâm kia sáng ngọc tươi vàng
Chí như chim Lạc thẳng hàng bay lên.
Một nguyện cứu độ nhân thiên
Trong hồ mê trược hiện viền thái hư.
Dưới hoa đức Phật trầm lư
Nghe xong đứng dậy áo như rang hường.
Trông về thung lũng mù sương
Bước đi mỗi bước chân thường Như Lai.
Cánh hoa tuyết rụng trên vai
Ðường về thơm một dặm dài khói hương.

RŨ ÁO HỒNG TRẦN

Lại tôi nghe thấy tỏ tường,
Một thời Phật ngự trong vườn Cấp Cô.
Dưới cây Thái tử Kỳ Ðà,
Bốn mùa cây cỏ ra hoa cúng dường.
Sáng kia xá vệ thành sương,
Cửa ngoài nở mặt trời hường sáng soi.
Phật mang y, bát rạng ngời,
Bước chân tịch mặc trong đời tham mê.
A Nan hiền giả hầu kề,
Ôm bình theo giữa bốn bề mây vương.
Trên cành hoa sớm dâng hương,
Gió lay rụng những đóa sương diệu kỳ.
Vào thành, dừng lại phố kia,
Gặp ba tử tội đầm đìa châu sa.
Ngựa dong điệu trước một già,
Giáo gươm tỏa ánh chói lòa rợn oai.
Ðằng sau áp dẫn hai trai,
Mẹ con ác tặc đến ngày đầu rơi,
Gặp Phật hóa độ tới nơi,
Quan trên dừng lại nghiêng người nể nang.
Nhác trông rực rỡ y vàng,
Tử tù quỳ xuống giữa đàng van xin.
Hỏi ra mới rõ tội tình,
Phật xin quan hãy vì mình thả ra.
Vâng lời dạy, vội ân tha,
Giao cho về với đức cha đại hiền.
Mẹ con được thả ra liền,
Quỳ ôm chân Phật hóa duyên khóc dài.
Rằng: ơn cứu tử của ngài,
Sống ghi tạc dạ, chết vùi theo sâu.
Thầy ơi! Trăm khổ ngàn sầu,
Con xin sám hối quay đầu quy y.
Phật rằng: oan trái thân kia,
Gieo nhân, hái quả, mau lìa nghiệp duyên.
Từ nay cố gắng tu chuyên,
Ắt sau hưởng phúc nhân thiên đời đời.
Các con hãy nhớ ghi lời,
Mười điều tu thiện là nơi cậy nhờ.
Duyên may để chuyển nhân xưa,
Chỉ bây giờ biết bây giờ giới trai.
Nói xong Phật gọi Thiện Lai!
Lạ thay tóc phủ ngang vai rụng liền.
Áo gai đang mặc trên mình,
Hào quang tỏa chiếu biến thành cà sa.
Tham mê gội sạch lòng hoa,
Con thành La Hán, mẹ là Bất Lai.
Lầu lầu trí nhiệm mầu khai,
Tâm như ngọc kết trên đài đau thương.
Theo Phật về tới đạo trường,
Cơ duyên kia thật lạ thật lạ thường ai hay.
Tôi hầu dưới thềm hoa lay,
Căn xưa, xin Phật khai bầy xem sao?
Phật rằng: nhân quả theo nhau,
Xem ngày nay biết ngày sau những là.
Thủa xưa vua hiền Lý Nha,
Lân bang kiêng nể, dân làng cậy trông.
Sinh ba hoàng tử hào hùng,
Người ten Lý Nhã rộng lòng từ bi.
Một hôm vua dẫn con đi,
Lên non chọn suối lưu ly ngâm mình,
Anh em vào núi tìm quỳnh,
Lội theo dòng biếc in hình trời cao.
Bỗng đâu gặp dưới cội đào,
Mẹ con hổ đói khác nào khung xương.
Mẹ nằm ảo não bi thương,
Hai con nhay sữa bên sườn đét da.
Thương tình, ai ngẩn ngơ hoa,
Nhũ thầm hỏi lấy chi mà cứu đây!
Khổ ơi sao khổ thế này,
Kéo lê một tấm thân gầy vì con.
Thâm tình như núi như non,
Ngàn năm nước chảy vẫn còn uy nghi.
Nghĩ hoài chẳng biết lấy chi,
Cứu ba mạng sống đành thì cho thân.
Hai anh dục giã rời chân,
Trở về kẻo để phụ thân buồn rầu.
Nhã thưa: em sẽ về sau,
Hai anh hờn giận kéo nhau vội dời.
Nhìn cọp mẹ sắp tắt hơi,
Thế là tự nguyện tới nơi cọp nằm.
Rã rời chẳng thể vồ ăn,
Nhìn như cảm tạ ân nhân dạt dào.
Hoàng tử liền rút lưỡi dao,
Tự đâm ngập cổ máu đào vọt lên.
Hổ mẹ liếm láp tỉnh dần,
Lần hồi ăn hết xác thân đỏ lòm.
dắt nhau lủi trốn vào non,
Máu loang xương trắng vẫn còn dưới hoa.
Hai anh về gặp vua cha,
Hoàng hậu thấy vắng hỏi là: em đâu?
Nhã còn lội suối về sau,
Vua rằng: sao để rừng sâu một mình.
Ðập bàn thét gọi vệ binh,
Truyền mau lên núi đón nghinh Nhã về.
Vừa tìm đến cội hoa kia,
Thấy đầu hoàng tử đầm đìa máu loang.
Tin như sét dội kinh hoàng,
Hai thân gieo xuống long sàn lịm hơi.
Bỗng nghe văng vẳng từng trời,
Con xin: “phụ mẫu kịp dời về kinh.
Vì nguyện cứu độ chúng sinh,
Ðem thân nuôi cọp thoát hình đảo điên.
Bây giờ sinh hóa cõi thiên,
Từng trời Ðâu Suất là miền thảnh thơi.
Lầu cung ngọc sáng vàng ngời,
Thấy cha đau đớn con vời hạc sang.
Tiếc chi một nắm bụi vàng,
Có hình, có hoại tiếp đàng tử sanh.
Thiện nhân: sinh hóa cõi lành,
Ác nhân: địa ngục quẩn quanh giãi dầu.
Mẹ cha tinh tấn đạo mầu,
Mốt mai con lại được hầu mẹ cha”.
Trên không cành hạc la đà,
Song thân vừa cũng tỉnh ra bàng hoàng.
Truyền đem hòm ngọc quách vàng,
Thu hài cốt nọ vội mang lên đường.
Tháp xây mấy ngọn cúng dường,
Tạc bia ghi chuyện lạ thường xưa nay.
Lý Nhã nay lại về đây,
Lý Nha vua trước ngày rày phụ thân.
Ba mẹ con hổ rừng xuân,
Sáng nay, nguyện xả bụi trần xuất gia.
Bây giờ, như cánh chim qua,
Thoát lên từ chốn bạo là tanh hôi.
Thềm lan Phật vẫy gọi tôi,
Vỗ vai nhắn nhủ đôi lời kể đây.


GIẾNG MẮT RỒNG

Một chiều mây ửng vườn này,
Hoàng hôn nhuộm cánh cò bay chập chờn.
Bướm theo mấy luống hoa vờn,
Ðồi thông xa vọng tiếng đờn nao nao.
Bỗng đâu dưới ngõ hoa đào,
Mây năm sắc quyện lối vào nhụy hương.
Hào quang sáng rực non sương,
Như đèn bảy báu dị thường chiếu soi.
Rẽ mây hiện đến hai người,
Trang nghiêm vóc ngọc, tỏa ngời dung hoa.
Gót sen bước đến hiên nhà,
Quỳ bên thềm cỏ dưới tòa dâng hương.
Chắp tay cầu thỉnh tỏ tường:
“Ðại từ bi đấng lòng thương sâu dầy.
Con từ cõi nọ qua đây,
Ðốt đèn bảy báu trải mây cúng dườn.
Xin ngài chỉ nẻo soi đường
Tan cơn huyễn mộng lạc thường an vui.”
Phật tùy căn trí mỗi người
Thỉnh chuông diệu pháp ban lời viên âm.
Nhiệm mầu thay, cõi chân tâm,
Bừng con mắt khỏi sai lầm vọng mê.
Cúi đầu thi lễ lui về,
Cỏ chen lối biếc hoa kề cổng tươi.
Sáng sau trà nước hầu người,
Lại thêm hai đĩa dâng mời trái hoa.
Khơi trầm thơm đứng bên tòa,
Hàng hàng tăng chúng quanh nhà hầu nghe.
Bạch thầy: “mây cuốn tàn che,
Tối qua hai vị thần về từ đâu.
Hẳn trồng cội phúc dầy lâu,
Ngày nay phúc báo thân mầu nhiệm kia?”
Ngài rằng: “nhân thể khôn lìa,
Xưa Phật Ca Diếp chuyển mê độ đời.
Sau khi đã nhập diệt rồi,
Bấy giờ chính pháp vào thời dị không.
Có hai người dòng tịnh môn,
Phát tâm kính giữ lưu tồn phép trai.
Một vị nguyện sinh cõi trời,
Một vị nguyện sẽ trị đời đau thương.
Thụ rồi, lui gót chùa hương,
Về nhà vợ mắng: để cơm ai chờ?
Người thứ nhất, miệng u ơ,
Rằng thôi quá ngọ bây giờ chẳng ăn.
Sáng nay tôi hứa tu hành,
Vợ chàng nghe nói tam bành nổi lên.
À này anh chớ cố quên,
Ðang theo dòng dòng Phạm chẳng quyền đổi thay.
Nếu anh không bỏ giới trai,
Người ta biết sẽ đuổi ngay anh liền.
Tôi anh là hết nợ duyên,
Mỗi người mỗi ngã cho yên mọi bề.
Mắt sầu ai đốt lòng kia,
Giới trai chỉ để phải lìa duyên nhau.
Thương thay! một giọt lệ châu,
Nhẹ như sương lại đổi màu sắt son!
Gượng dùng đôi bát cơm ngon,
Thế rồi giới nguyện ai còn khói bay.
Tuổi xuân bóng chớp mộng ngày,
Trước sau rồi cũng nằm dài dưới hoa.
Người dù ngọc chuốt vàng pha,
Trước sau thôi cũng da ngà tóc sương.
Rồi ra nắm cỏ bên đường,
Ðêm nghe tiếng dế đoạn trường tỷ tê.
Người nguyện làm vua trị vì,
Giới trai toàn vẹn nên về trần gian.
Người nguyện sinh cõi thiên đàng,
Giới trai chẳng vẹn đọa sang loài rồng.
Cũng do nhân thiện gieo trồng,
Nhà vua trị cõi trần hồng tốt tươi.
Lầu vàng gác ngọc nơi nơi,
Bốn phương nhờ cậy nước trời bao dong.
Dưới trên hòa thuận một lòng,
Sức người như thể biển Ðông sóng trào,
Kể chi rừng lý thôn đào,
Ðâu đâu dân cũng ra vào bình yên.
Hoàng cung có một hoa viên,
Trồng toàn cây quý khắp miền tiến dâng.
Gió đưa hương đến quanh vùng,
Xa trông như một khu rừng mây che.
Nhà vua cử một họ kia,
Gọi quan Viên Giám chuyên nghề tỉa hoa.
Hai mùa nắng lại mưa qua,
Ngắt bông hái trái gửi ra điện phòng.
Một hôm trên giếng mắt rồng,
Nổi nênh một trái nhác trông tuyệt vời.
Ánh vàng rực rỡ tỏa ngời,
Mùi thơm dù sánh hương trời cũng thua.
Ðem về cung hiến lên vua,
Của tiên nào có ai ngờ được ăn.
Dao vàng đĩa ngọc cắt lần,
Lạ thay! Trăm mối lụy trần sạch sanh.
Hỏi xem sự việc rõ rành,
Hẳn chim tha đậu trên thành giếng rơi.
Giờ sao dõi vết chim trời,
Sáng dong núi Bắc, chiều dời biển Ðông.
Lòng vua còn khát khao trông,
Truyền quan coi giữ giếng rồng đợi chim.
Trở về ngày dõi đêm tìm,
Thấy chi đâu giữa im lìm cỏ hoa.
Lần hồi xuân lại Ðông qua,
Mãi tà dương lại theo tà dương đi.
Thế rồi đến một đêm kia,
Vị quan ngồi lắng sao khuya nghìn hàng.
Dưới lòng giếng ẩn bóng trăng,
Bỗng dưng hóa hiện muôn tần lầu cao.
Xà cừ, mã não, trân châu,
Dặm đường liễu rũ, nhịp cầu cuộn mây
Còn đang lặn ngắm ngất ngây,
Bỗng xô cửa nguyệt một người hiện ra.
Dáng thần sáng ngọc tươi hoa,
Dâng mâm trái quý chói lòa vườn Ðông.
Rằng: tôi là hóa thân rồng,
Với nhà vua trước cũng trong thâm tình.
Cũng dòng phạm chí tịnh thanh,
Lại cùng nguyện giữ pháp lành Bát- trai.
Vua giới hạnh được làm người,
Tôi không theo trọn đọa nơi cõi rồng.
Giờ thân ở dưới long cung,
Vô minh còn nặng đèo bồng từ xưa.
Lòng tôi tha thiết cầu vua,
Giúp cho ánh sáng Phật thừa từ bi.
“Bát Quan Trai” pháp tu trì,
Để tôi trai giới cầu về nhân thiên.
Nếu như chẳng thỏa nguyện trên,
Sẽ về gọi nước dâng lên hoàng trào.
Bấy giờ muôn nóc lầu cao,
Cũng theo vương quốc chìm vào biển khơi.
Nói rồi cung kính nghiêng người,
Trở vào lòng giếng lại ngời trăng trong.
Giám viên xiết đổi kinh lòng,
Vội lên quỳ trước sân rồng quỳ tâu.
Vua nghe thêm mối lo sầu,
Pháp giới trai biết tìm đâu bây giờ.
Sớm chiều ra ngẩn vào ngơ,
Lệnh truyền kiếm khắp đền chùa xưa nay.
Cũng là tìm dấu chim bay,
Đạo xưa ai biết diễn bày ra sao.
Lòng thành cảm đến ngôi cao,
Quán Âm mới trải bông đào thành kính.
Sáng ngày vừa rạng bình minh.
Bên thành ai kết muôn hình chữ hoa.
Rõ ràng giới pháp Phật Đà,
Vua truyền sao chép phát ra khắp cùng.
Lại đem thả dưới giếng rồng,
Bỗng nghe ngàn chiếc trống đồng rinh tai.
Nhờ công tu tập pháp trai,
Rồng kia cởi thoát hình hài thánh tiên.
Nhà vua cũng giữ đạo hiền,
Đến ngày nghiệp tận cõi thiên hóa về.
Hai người đều trụ cõi kia,
Cùng nhau sám hối tu trì sớm hôm.
Tối qua tìm gặp Thế Tôn.
Đến đây cầu đạo chân thường thế gian.
Hai vị chừng quả Đà Hoàn,
Lìa ba đường dữ, Niết Bàn là nơi.
Nghe xong tăng chúng ngậm ngùi,
Lâng lâng, lòng ngập niềm vui trọn lành.

TRỒNG ĐÀO CÚNG PHẬT

Ngày xưa nơi Xá Vệ thành,
Có nhà giàu nọ phúc lành dầy lâu.
Thường hay giúp kẻ cơ cầu,
Khiến cho giải oán vơi sầu nhiều nơi.
Cho nên phước báo tuyệt vời,
Sinh ra một kẻ khác đời xưa nay.
Vừa ra đã biết hỏi ngay:
“Cha ơi! Phật vẫn trụ đời phải chăng?
Các Ngài Xá Lợi A Nan,
Hẳn đi hóa độ thế gian chưa về?”
Tin đồn đãi khắp vùng quê,
Ai nghe chẳng muốn tìm về chia vui.
Phú ông thắng kiệu cùng người,
Đi hỏi duyên cớ đến nơi vườn hồng.
Bạch Phật : “Đệ tử sanh con,
Biết nói từ lúc lọt lòng, lạ chưa!
Chẳng hay do thiện nghiệp xưa,
Hay là oan trái bây giờ bảo nhau?”
Phật cười: “Tích đức dầy lâu,
Sinh ra phúc quả nhiệm mầu đó thôi.
Trẻ sau trí tuệ tột vời,
Làm cho tôn tộc đời quang vinh.
Vẻ vang khắp cõi nhân sinh,
Đó là đất phước, trí minh để đời”.
Nghe như cam lộ tỉnh người,
Cúi đầu lễ tạ ngựa dời về thôn,
Tới nhà vừa lúc hoàng hôn,
Chim đâu tụ suốt chiều hôm vui vầy.
Vào phòng, trên chiếc nôi mây,
Gặp cha, trẻ lại tỏ bày thiết tha:
“Lòng con muốn thỉnh Phật Đà,
Rước theo Tăng chúng về nhà cùng trai.
Cha chiều con thỏa nguyện này,
Vì con thực đã bao ngày ước mong”.
Ông rằng sẽ được như lòng,
Để cha sửa lễ cúng dường Như Lai.
Trẻ thưa: La Nại thành ngoài,
Mẹ xưa còn ngụ xóm chài héo hon.
Đón về cho mẹ nhận con,
Trần gian lưu một nét son nghĩa tình.
Xin bầy ba tòa cung nghinh,
Ngôi trên Tăng, Phật chứng minh lễ đài.
Kế tòa thanh tịnh phạn trai,
Dành mời hiền mẫu xóm ngoài thành La.
Một tòa cung thỉnh mẹ cha,
Trên ơn Tam Bảo, dưới nhà thuận vui.”
Hôm sau thiết lễ trai thời,
Hồng tươi hoa điểm, xanh ngời trầm vương.
Ẵm trẻ ra lễ thềm hương.
Thỏa lòng kính ngưỡng vẹn đường thâm ân.
Cũng nhờ diệu pháp chính chân,
Một nhà tỉnh giấc mộng trần mê si.
Trẻ sau cũng được quy y,
Như chim vỗ cánh xuân thì bay sang.
Chẳng bao lâu chừng đạo vàng,
Quả A La Hán rỡ ràng nhân thiên.
Một hôm hầu Phật bên thềm,
Tôi đem chuyện hỏi: nhân duyên lẽ nào?
Vừa tu đã chứng đạo mầu,
Vừa sinh đã nói lầu lầu chuyện xưa?
Phật rằng: gió thoảng mây đưa,
Chuyển mê, khai ngộ một bờ chẳng hai.
Tiền thân cậu bé kiếp này,
Là con một họ ở ngoài thành La.
Lạc loài từ thuở mất cha,
Đi làm nuôi một mẹ già sớm hôm.
Lần hồi bữa cháo bữa cơm,
Chân mòn cát trắng áo đơn bụi hường.
Một hôm gặp Phật bên đường,
Lấy chi mà để cúng dường bậc cao.
Lần lưng còn một hạt đào,
Quyết đem hạt nọ ương vào vườn kia.
Nguyện sau cây lớn xum xuê,
Bên đường, cho khách đi về nghỉ ngơi.
Nguyện xin trái thẫm hoa tươi,
Lợi riêng nhưng để người người hưởng chung.
Theo như lời Phật, mà nương,
Cứu muôn loài để cúng dường mới cao.
Nhờ công đức ấy hạt đào,
Kiếp này thân được sinh vào giàu sang.
Đường tu chứng ngộ đạo vàng,
Rồi đây muôn cõi cúng dàng kể chi.
Phật ngồi bên giậu tường vi,
Chùm hoa xanh nở trên y nhuốm vàng.
Một con bướm dại vừa sang,
Cánh bay lẫn giữa đôi hàng xuân hoa.



LÃO ĐÁNH CÁ VÀ THẦN BIỂN

Ngày xưa dân xóm giang hà,
Trên bờ sông liễu thướt tha mấy hàng.
Một hôm chung tậu thuyền buôn,
Tìm châu ngọc giữa đại dương bềnh bồng.
Dẫn thuyền là lão ngư ông,
Thạo nghề biển, lại giữ lòng giới trai.
Thâm sâu giáo lý Như Lai,
Vượt trên sóng bạc buồm vài cánh trương.
Lênh đênh giữa biển mù sương,
Vời trông xóm nhỏ tà dương phai vàng.
Đêm kia gặp chuyện kinh hoàng,
Thủy thần hiện giữa mênh mang khói mờ.
Quanh mình trăm ngọn sóng xô,
Đeo xâu xương trắng ngang bờ vai cao.
Đôi môi còn đậm màu đào,
Chặn thuyền cất tiếng thét gào bi thương:
“Ta đây ngự trị đại dương,
Trần gian ai đáng sợ hơn thân này?”
Ngư ông đáp: “kể xưa nay,
Những người hung bạo hơn ngài thiếu chi!
Đó là những kẻ sân si,
Sát, dâm, trộm, dối, nặng vì lòng tham.
Chết sa ngục khổ vô vàn,
Dao trăm mũi xả, gươm ngàn lưỡi phanh.
Hoặc xe nghiền nát tan tành,
Hoặc giam cõi ngục đóng đanh lửa hồng.
Nát thân rồi lại liền không,
Trăm nghìn lần sợ hơn ông kể gì.”
Nghe rồi thần hóa thân đi,
Hiện ra giữa biển lưu ly một người.
Xấu xa hình vóc lạ đời,
Đến bên thuyền hỏi xem nơi trần hoàn:
“Có ai lạ hơn ta chăng?”
Ngư ông cười đáp: thưa rằng quá quen.
Đó là những kẻ bon chen.
Giant ham, nịnh hót, ghét ghen đủ điều.
Cũng vì tà kiến tự kiêu,
Chết đi trả nghiệp trăm điều chưa thôi!
Thân làm ngạ quỷ tanh hôi,
Đói cơm, khát nước, trùng dòi đục thân.
Mồm như lò lửa cháy rần,
Nhọt ung rỉ mủ liếm ăn lần hồi.
Nghe qua thần cũng rụng rời,
Biến thân đi, lại hiện người đẹp sang.
Tay hoa sáng ngọc tươi vàng,
Tóc mây lả ngọn dịu dàng hương lơi.
Tiếng nghe thánh thót tuyệt vời,
Mắt nhung huyền hoặc nghiêng trời sóng nao.
Nàng cười hòi: “Chốn trần lao,
Ai nhan sắc kịp má đào này chăng”?
Ông rằng: “Sánh ngọc đua trăng,
Trần gian đâu thiếu người bằng ngài đây.
Đó là phúc tuệ sâu dày,
Những ai tu dưỡng tháng ngày tịnh thanh.
Giữ thân, khẩu, ý trọn lành,
Cúng dường nhất thiết chúng sanh nguyện đời.
Mệnh chung sinh hóa cõi trời,
Thân tươi vẻ ngọc, trí ngời ánh gương.
Thần thông biến hóa mười phương,
Hoa lay là vóc, mây vương là người.
Ngài dù trăm tốt ngàn tươi,
Chẳng qua huyễn hóa giữa nơi hồng trần.
Sớm hơn bọt nổi phù vân,
Tan theo ngọn nước lênh đênh cuối ngày”.
Thần múc nước biển đầy tay,
Hỏi: “Nước trong vốc hay ngoài nhiều hơn?”
Ông rằng: Biến đổi vô thường,
Nước trong tay nọ nhiều hơn biển ngoài.
Vì, dù nước réo trùng khơi,
Tuy nhiên rồi cũng có thời cạn khô.
Khi hai mặt trời vừa nhô,
Thì bao ngòi lạch ao hồ sạch không.
Lại khi ba mặt trời hồng,
Thì trăm ngàn vạn dòng sông thành đường.
Lại khi bảy mặt trời hường,
Thì khô hết nước trùng dương cõi này.
Kim cương giữa cõi đất dày,
Cũng thành một đám mây bay bụi tàn.
Còn người vượt bến mê sang…
Cứu muôn loài khổ lên đàng thảnh thơi.
Trải muôn kiếp chẳng đổi đời,
Đó là vì nước tay người nhiều hơn.
Thần nghe ngộ lẽ chân thường,
Gửi dâng châu ngọc cúng dường Như Lai.
Lại đem bảo vật tặng ai,
Đạo mầu thâm diệu biện tài mênh mang.
Buồm cao ngóng nẻo rang vàng,
Một chiều về bến sông hoàng hoa tươi.
Ngọc châu kia khắp người người,
Lão ông lại kịp đến nơi đạo trường.
Quì ngoài lều cỏ dâng hương,
Chúng con nguyện thoát vô thường cầu tu.
Kính xin Phật nhủ lòng từ,
Độ người chìm đắm qua bờ sông mê.
Non cao vân tập chim về,
Tiếng rơi thơm mát bốn bề hoa lay.
Đoàn người kia, bỗng lạ thay,
Trần tâm rũ sạch, tan mây huyễn mờ.
Áo thành vô nhiễm cà sa,
Chứng quả La Hán chói lòa thần thông.
Lại thêm trời trải mây hồng,
Như hoa gấm phủ thinh không mấy từng.

TÌM DUYÊN GIẢI THOÁT

Ngày xưa có đền thủy dương,
Ven sông, sớm tối khói hương phụng thờ.
Bốn mùa chim tụ mây đưa,
Hoa dâng nắng sớm, lau thưa khói chiều.
Lại, qua, xe ngựa dập dìu,
Ai không hiến lễ ít nhiều hoa hương.
Một hôm có khách thập phương,
Là quan tể tướng thành Vương ghé vào.
Khấn rằng: muôn dặm âm hao,
Nghe thần từng giúp biết bao nhiêu người.
Nay xin quý tử ra đời,
Được như tôi hiến vàng mười điểm tô.
Bằng không, sẽ lấy than tro,
Trát lên thần tượng, miếu thờ đập tan.
Khấn xong, lại trở lên đàng,
Về thành lấp lánh đôi hàng giáo gươm.
Địa thần lên điện Thiên Vương,
Quì ngoài sân ngọc tỏ tường trình thưa.
Vương truyền: ta sẽ tâu vua,
Lên cung Đế Thích cho vừa ngày trao.
Chùa tôi vẫy đám mây đào,
Cõi trời Đạo Lợi, thẳng vào quì tâu.
Mây sa rồng cuộn nước lầu,
Rằng: “Thần có một tôi hầu đất kia.
Quan Tể Tướng nước Duyệt Kỳ.
Đến xin quý tử xin về năm nay,
Bằng không, san miếu thẳng tay,
Giờ cầu Thiên Đế, việc này quyết xong”.
Nhân khi có một tiên ông,
Đến ngày nghiệp tận, bệ rồng vời qua.
Trẫm nghe nơi cõi trần sa,
Có quan thừa tướng là nhà hiền lương.
Thác sinh khanh sớm lên đường,
Đầu thai xuống chốn thành vương dõi truyền”.
Thực lòng ông mới trình lên:
“ Vinh hoa là cửa ưu phiền ngục sâu.
Ý tôi chẳng muốn sang giàu,
Nguyện sanh chốn khổ dễ cầu đạo tu.
Dù nơi dân giả bần ngu,
Còn hơn lầu cát giam tù một mai”.
Đế rằng: “ Khanh cứ đầu thai,
Rồi sau ta giúp cho ai toại lòng”.
Cúi đầu lạy tạ thềm rồng,
Đôi con hạc đón tiên ông lên đàng.
Một đêm trong giấc mơ màng,
Quan Tể Tướng thấy hào quang chói lòa.
Sáng sau lại được tin nhà,
Phu nhân mãn nguyệt khai hoa đêm rồi.
Một trai tướng đức tuyệt vời,
Lâng lâng vẻ ngọc, sáng ngời vóc hoa.
Tin vui truyền khắp gần xa,
Ông đem vàng ngọc dựng tòa miếu thiêng.
Một vị đạo sĩ quanh miền,
Cũng thời trang trại chống thiền trượng qua.
Xem tướng xong đặt Hằng Gia,
Dậy rằng trẻ nối dòng nhà vẻ vang.
Lần hồi thu lại đông sang,
Hằng Gia cốt cách phi phàm biết bao.
Tánh ưng nghe thuyết đạo mầu,
Sớm xin cha mẹ cho đầu Phật gia.
Thưa rằng: thấm thoát ngày qua,
Tấm thân ai có biết là khói sương.
Làm người đã khó khôn lường,
Lại còn gặp Phật dẫn đường vinh thay!
Ngàn năm đâu dễ hội này,
Mở khai chính đạo độ đời tham mê.
Cho con tầm đạo tu trì,
Thoát ra ngoài cõi so bì giả danh.
Phụ thân nói: “ Muốn tu hành,
Dù nơi lầu các, rừng xanh cũng là.
Cần chi bỏ cửa bỏ nhà,
Đầy thân nắng giải sương pha lần hồi.
Mẹ cha có một con thôi,
Sẵn đầy tài sản, hơn người quyền danh.
Nếu con quyết chí tu hành,
Ra đi cha mẹ cũng đành nhớ thương.
Kể chi đến chuyện tông đường,
Dòng nhà thôi cũng hết phương dõi truyền.
Chi bằng mở rộng đạo duyên,
Con dùng phương tiện chở chuyên giúp đời.
Lòng cha nào thể đổi dời,
Nói chi, đôi mắt lệ ngời dưng dưng.
Một hôm cỡi ngựa vào rừng,
Thấy đôi hạc tía trên từng mây trôi.
Hạc bay thăm thẳm chân trời,
Lánh xa mây trắng rạc rời dưới non,
Còn ta danh lợi quây tròn,
Quẩn quanh trăm mối, hao mòn hai vai.
Tốt hơn trút bỏ thân này,
Đành như cởi áo đổi thay thế tình.
Quyết lòng đỉnh núi gieo mình,
Xuống khe mây ngút như hình lá rơi.
Lạ Thay! một giải sương trời,
Biến thành võng lụa đỡ người vàng châu.
Hằng gia mặt héo mây sầu,
Lại tìm ngọn nước dưới cầu gầm reo.
Trông mây man mác qua đèo,
Nguyện như mây nọ, lìa theo giữa giòng.
Lạ thay! bọt nước trên sông,
Kết thành một đóa sen hồng đỡ thân.
Làm sao thoát kiếp phù trần,
Mượn liều thuốc độc, thêm lần đổi thay.
Uống vào năm sáu chén đầy,
Mà sao trí vẫn hiện bày như trăng.
Tìm phương tính kế cho bằng,
Xô tan nghiệp lụy xích thằng mà ra.
Một hôm giữa nội cỏ hoa,
Bên dòng suối mát, đàn ca vang ngần.
Bao nhiêu mỹ nữ cung tần.
Xuống lòng suối biếc ngâm thân vui vầy.
Áo hồng tía vắt trên cây,
Tóc ai đem xỏa bóng mây giữa dòng.
Ngựa chàng đỉnh núi xa trông,
Tự nhiên nẩy kế thoát vòng trần ai.
Nghĩ rồi quyết thực hành ngay,
Xuống đầu suối mát nằm dài hát ca.
Tiếng nào vọng giữa rừng xa,
Lơ thơ hoa rụng, la đà sóng vang.
Sương thu quyện tiếng ca chàng,
Dòng thu cuộn cánh hoa vàng đến vua.
Gió buồn não trận sầu mưa,
Nói cười im bặt bên bờ cỏ êm.
Đùng đùng vua nổi bão ghen,
Kẻ nào dám tắm trên ghềnh suối ta.
Thét quân gươm giáo sáng lòa,
Lên non tìm bắt để mà khai đao.
Trăm hoa ủ dột mà đào,
Lại như dầu nọ thêm vào lửa sân.
Đã nghe ngựa hí vang rần,
Rẽ sương đầu núi ba quân kéo về.
Dẫn theo một gã cuồng kia,
Hoa chen gót tía, may chia tóc bồng.
Truyền đem trói trước kiệu rồng,
Chặt đầu, chuộc tội nghìn hồng mất vui.
Lệnh ban hoa cỏ bùi ngùi,
Gã kia mắt biếc tươi cười tự nhiên.
Gươm vừa chạm đến mình tiên,
Bỗng dưng đao phủ thét lên rụng rời.
Vì gươm báu chợt gãy đôi,
Vua truyền cởi trói run lời hỏi han:
“Hẳn thiên tiên xuống trần gian,
Có điều chi muốn bảo ban lão thần”?
Hằng Gia quì dưới trình lên,
“ Phận hèn muôn đội ơn trên cao dầy.
Là con Tể Tướng nước nằy,
Vì không toại nguyện, nên đày đọa thân.
Tính nhờ gươm pháp minh quân,
Hóa đi một kiếp hồng trần cho xong.
Giờ xin vua thỏa nguyện lòng,
Khuyên can nghiêm phụ, dám mong gì nhiều.
Cho thần tìm đạo cao siêu,
Thoát đường danh lợi là đường thiết tha.
Về nương dưới bóng Phật Đà,
Bước chân quyết vượt ái hà mê tân”.
Lòng vua cảm mến muôn phần,
Truyền sai đón bậc lão thần bảo ban.
Rồi vua lại tự đưa chàng,
Đến nơi tịnh xá dưới làng hoa rơi,
Phật đang dạo ngó mây trời,
Bước chân tuyết rụng xanh ngời cỏ xuân.
Hằng Gia chợt thoát mê tân,
Như chim vượt khỏi lưới trần phiêu bay.
Vua A Xà Thế tỏ bày:
“ Nhân chi mà hưởng quả này phúc duyên?
Dù cho gươm giáo cung tên,
Ai kia chạm đến bực hiền được sao.
Lại còn tám vạn trần lao,
Thoát lìa một chớp ra vào ngại chi”?
Phật rằng: “tiền kiếp xưa kia,
Có vua nước lớn trị vì muôn dân.
Một hôm cùng các phi tần,
Dong xe lên đỉnh non thần đàn ca.
Bỗng nghe vẳng tiếng tiêu hòa,
Khiến bao giọng ngọc khóc hoa lặng chìm.
Thét quân vua bắt đi tìm.
Tiếng tiêu thoắt hiện, thoắt im dặt dìu.
Lưng non gặp một gã tiều,
Đang ru mình giữa tiếng tiêu nhịp nhàng.
Lệnh vua tức khắc đem giam,
Chỉ vì một khúc tơ oan tội tình.
Đường về gặp quan giám binh,
Hàng hàng gươm giáo lạnh mình oai nghi.
Động lòng thương xót gã kia,
Chút say nghệ sĩ, can gì đầu rơi!
Đến vua quì gối tâu lời:
“ Chấp chi một khúc nhạc rời rã hoa.
Cúi xin ơn rộng hải hà,
Hiếu sinh dung kẻ tài ba một lần”
Nhà vua nể nghĩa quân thần,
Cũng nguôi nộ khi truyền quân thả người.
Vị quan cứu tử mừng vui,
Cho làm nghĩa tử theo đòi sớm hôm.
Lần hồi xuân hạ thu đông,
Suối xanh rồi cũng nhớ sông cát vàng.
Gã tiều thấm lẽ vô thường.
Tưởng lều cỏ cũ, chán chường phố mây.
Chàng thưa: “ Nguyện có cao dầy,
Công ơn nghĩa phụ lòng này tạc ghi.
Muốn đền đáp, biết lấy chi.
Con xin về núi tu trì thiện căn”.
Ông rằng: “việc chẳng nên ngăn,
Nhớ khi đắc đạo về thành độ cha.
Tạ từ lui bước chân ra,
Như voi nhờ chốn rừng già kịp đi.
Như sông nhớ biển lần về,
Như ai ngàn dặm nhớ quên võ vàng.
Rừng xưa nơi bãi cỏ hoang,
Dựng lều lau sậy ẩn làng chí cao.
Sớm hôm suy gẫm tìm cầu,
Phá tan huyễn vọng, nhiệm mầu tâm khai.
Dùng thần thông đạp mây bay,
Về thăm nghĩa phụ, hiện bầy tâm quang,
Chiếu ra núi biếc trời vàng,
Thành hơi gió thoảng chiên đàn lâng lâng.
Thấy con, nghĩa phụ vui mừng,
Nguyện lòng, ngưỡng vọng lên tầng mây đưa.
Duyên may được cứu ngài xưa,
Từ lên tu núi khắc giờ thầm trông.
Bây giờ phúc tuệ thần thông,
Xin ngài cứu độ qua sông mê này.
Rồi nương chính pháp sâu dầy,
Sớm hôm tu dưỡng hầu thầy độ sinh.
Hậu thân của vị Giám Binh,
Là Hằng Gia đó liều mình cầu tu.
Thân này trong cõi phù du,
Mà luôn thức tỉnh cho dù bến mê.
Cũng nhờ hạnh nghiệp xưa kia,
Kiếp này khai ngộ Bồ Đề tâm không.
Từ đây, cởi áo trần hồng,
Như con sáo sậu qua sông trở về”.
Nghe rồi, Vua bước lên xe,
Cờ reo dậy đất, tàn che rợp nhà.
Phật kêu Bồ Tát Hằng Gia,
Dạo bên suối lạnh ngó hoa xuôi dòng.
Cát vàng óng ánh đáy trong,
Hoa man mác nổi trên dòng suối lơi.
Hằng Gia hiểu ý Phật rồi,
Chắp tay lễ tạ kịp dời gót chân.
Một nhà mai trúc đầy sân,
Giúp vua, trị nưóc, cứu dân thỏa lòng.
Như trăng sáng tỏa hư không,
Ngại chi hiện giữa giọt hồng sương hoa.

NGƯỜI CON HIẾU HẠNH

Ngày xưa Phật ở đất La,
Trong vườn lục trúc nơi nhà cỏ tranh.
Ngày ngày hóa độ trong thành,
Như chim Thu tự cõi thanh tịnh về.
A Nan hiền giả hầu kề,
Bước chân theo nở đóa lê đậm đà.
Cổng đông có một túp nhà,
Ông thường thấy vợ chồng già què đui.
Và con trai mới lên mười,
Nó đi khắp phố đông người xin ăn.
Cơm ngon trái ngọt để dành,
Về nuôi cha mẹ, lòng thành tự nhiên.
Đã lưu tâm đến trẻ hiền,
Một hôm hầu Phật, Ông liền trình thưa:
Từ ngày thỏa gót mây đưa,
Con thường qua mái tranh thưa bên thành.
Thấy một đứa bé hiền ngoan,
Kiếm nuôi cha mẹ cơ hàn một thân,
Thôi thì nắng hạ mưa xuân,
Thời gian nứt nẻ gót chân đọa đầy.
Phật dậy: “ phúc đức sâu dầy,
Kẻ nào hiếu thuận vui vầy mẹ, cha.
Tiền thân nhớ một đời ta,
Nguyện đem cái chết cứu cha mẹ hiền.
Nên chi hưởng quả nhân thiên,
Trên trời: Tiên đế, dưới trần: Thánh Vương.
Đời nay thành Phật Thế Tôn,
Cũng nhờ cội phúc lưu tồn xa xưa”.
A Nan hầu chắp tay thưa:
Xin thầy dạy nghiệp nhân xưa thế nào?
Phật rằng: “ Trong cõi mộng đào,
Có vua Đỗ Bá, hoàng trào oai danh.
Được mười hoàng tử tinh anh,
Mỗi người giữ một tiểu thành chăn dân.
Người con út hiệu Thiện Thân,
Lòng từ tế thế, tài thần an bang.
Bỗng đâu nghiêng cửa triều dân.
Người con út hiệu Thiện Thân,
Lòng từ tế thế, tài thần an bang.
Bỗng đâu nghiêng cửa triều đàng,
Tướng quân soát đoạt ngai vàng ai hay.
Đất bằng sóng nổi cát bay,
Voi xô cửa ải, ngựa dày xác dân.
Kéo về vây bắt Thiện Thân,
Thế cô chẳng thể chống quân bạo tàn.
Ngài cùng vợ giắt con ngoan,
Nửa đêm cải dạng lên đàng lưu vong.
Tháng ngày vượt núi băng sông,
Chân xa quốc cố, lòng trông đất nhà.
Lần hồi đói khát cả ba,
Phu nhân lo lắng biết là cậy đâu.
Thương chồng con, dạ quặn đau,
Chẳng đành chết đói nhìn nhau một bầy.
Chi bằng ta lóc thịt tay,
Nuôi chồng con sống qua ngày còn mong.
Thân ta sao cũng cam lòng,
Còn hơn chết hết chẳng công ích gì.
Phu nhân mắt lệ đầm đìa,
Quyết lòng toan tính xa lìa trần lao.
Người con giằng được lưỡi dao,
Tự đâm vào ngực máu đào vọt tuôn.
Hai thân xiết đỗi kinh hồn,
Thều thào con trẻ thở dồn thưa qua:
“ Lòng con muốn cứu mẹ cha,
Xin dùng thịt nọ để mà cầm hơi.
Hồn con vương vất chân trời,
Mừng cha mẹ sống ngậm cười mà đi.
Nếu song thân chẳng dùng, thì…
Hồn con mãi mãi sầu bi dưới mồ”.
Thưa rồi khép mắt hư vô,
Mẹ cha khóc ngất lệ khô tuôn dòng.
Bỗng nghe văng vẳng thinh không,
Chim đâu thả xuống trái hồng trái lê.
Lại thêm bầy thỏ kéo về,
Thi nhau dâng mạng bên khe lách vàng.
Tưởng như trong giấc mơ màng,
Lần ăn, hai tấm thân tàn cầm hơi.
Đáy mồ lót nắm cỏ tươi,
Nóc trồng hoa trắng cho người con ngoan.
Thương thay! dế khóc trùng than,
Bên rừng gửi nắm xương tàn bụi sương.
Sáng sau tiếp tục lên đường,
Chân qua cuối thác hồn vương đỉnh triền.
Hai năm ở nước láng giềng,
Mài gươm sửa giáp chiêu hiền dấy quân.
Kéo binh về dẹp loạn thần,
Qua rừng xưa vẫn xanh ngần mộ hoa.
Não lòng ai chẳng lệ să,
Tạc bia, dựng miếu mấy tòa khói nhang.
Rồi sau thâu đoạt thành vàng,
Dựng lên triều đại huy hoàng muôn thu.
Đó là duyên nghiệp ta xưa,
Thiện Thân ngày trước bây giờ Tịnh Vương.
Phu nhân một thủa toan đường,
Hủy thân, giờ hiện mẫu hoàng Ma Gia.
Trẻ hiền trước bỏ thân hoa,
Nhờ công đức lớn, bây giờ là đây”.
Nghe xong diệu pháp khai bày,
Trong lòng ghi nhớ lời thầy từng câu.
Bao đời hiếu hạnh cao sâu,
Kết nên ánh sáng nhiệm mầu Như Lai.
Quanh thềm phơ phất hoa lay,
Mỗi nhành là mỗi búp tay cúng dường.

THAY ĐỔI DUNG HOA

Ngày xưa, trong một vườn hương
Mái lầu trời lợp, nẻo đường mây sa.
Điện son gác tía đôi tòa,
Là nơi công chúa xấu xa lạ đời.
Vừa trông ai chẳng rụng rời,
Trần gian nào thể có người dị hơn.
Tên nàng vua đặt Kim Cương,
Riêng xanh ngại liễu, riêng hường thẹn ai.
Cuối xuân nhặt xác hoa phai,
Chớm thu đứng vịn cành dài dạc sương.
Con uyên nó hót trên tường,
Tiếng kêu như rụng bên giường ngẩn ngơ.
Má hồng lại ửng trái tơ,
Mà phòng riêng chỉ hững hờ mà thôi.
Đêm đông lệ nóng bồi hồi,
Tiếng hoa ngoài rụng ngỡ người thầm trông.
Ngàn thay riêng nguyệt lẻ hồng,
Chẳng như đôi nhạn ngoài đồng tuyết rơi.
Vua cha dạ rối bời bời,
Tìm phương tính kế an bày duyên con.
Mong gì danh tộc vương tôn,
Thì thôi tìm chốn xóm thôn nghèo nàn.
Việc giao cho một huyện quan,
Dạo xem cuối núi đầu làng được ai.
Ngày kia gặp một chàng trai,
Cũng dòng thư kiếm tuổi ngoài đôi mươi.
Tóc xanh như cuộn tơ trời,
Dáng đi tưởng thoáng hạc rởi non hoa.
Nắng sương nuôi một mẹ già,
Sớm mai đốn củi trăng tà đọc thư.
Tháng ngày bữa cháo bữa dưa,
Chỉ vui hoa cỏ chẳng ưa lợi quyền.
Huyện quan viết sớ tâu lên,
Vua liền lo liệu định duyên ngọc vàng.
Họ kia nghĩ cũng thương nàng,
Còn thôi, quyền tước giàu sang kể gì.
Âm thầm hoa kết rèm che,
Về thôn, ngựa cuốn đôi xe ngọc ngà.
Dựng lên lầu cát nguy nga,
Giữa vườn mai trúc một nhà an vui.
Vợ chàng sầu vẫn chưa nguôi,
Nghĩ nào mình xứng với người được sao.
Một hôm dưới cổng trăng đào,
Có sư hóa độ ghé vào trang nghiêm.
Rằng: đây gặp đại nhân duyên,
Đến ngày Phật độ người nên lậy mời.
Kim Cương lấy trái hoa tươi,
Đem ra cung kính dâng người xuất gia.
Rằng: “ con vóc thể xấu xa,
Dám đâu đến trước Phật Đà dâng hương”.
Bỗng trời lãng đãng mây vương,
Hóa thân Phật đẹp dị thường dưới hoa.
Áo như ráng đỏ la đà.
Tay như hoa giữa chiều tà đơm tươi.
Lòng trần như rũ sạch ngời,
Thân xưa giờ đẹp tuyệt vời lạ thay!
Nhà sư hóa cánh hạc bay,
Lẫn trong mây trắng giăng đầy thướt tha.
Nàng lên lầu ngắm gương ngà,
Thấy mình thay đổi khác xưa thật rồi.
Da như hồng ửng mơ tươi,
Mắt như trầm nguyệt giữa trời mây tơ.
Còn đang lặng ngắm ngẩn ngơ,
Từ đâu chàng đến sững sờ trước gương:
“ Em đây phải chính Kim Cương,
Mà sao nhan sắc khác thường thế em”?
Nàng thưa: “tiền kiếp nhân duyên,
Vừa rồi gặp Phật hóa thân ngọc vàng.
Cổng hoa rực rỡ hào quang,
Tự nhiên em thấy bàng hoàng tâm thân.
Rồi tay như búp hoa ngần,
Rồi thân hoa liễu, gót chân như đào.
Vợ chồng mừng rỡ xiết bao,
Bâng khuâng hai bước nao nao một lòng.
Liền tìm mẹ dưới vườn hồng,
Nghe hai con kể, dòng dòng lệ vui.
Thắng xe ngựa bạch kịp diờ,
Bõ khi phố núi chân trời một thân.
Bây giờ vó cuộn phù vân,
Về thăm viếng bực song thân tại trào.
Nhà vua tưởng giấc chiêm bao,
Biết đâu rồi chẳng mộng đào qua nhanh.
Tin vua truyền khắp hoàng thành,
Cung tần mỹ nữ vân hành đến thăm.
Người đâu tuấn tử giai nhân,
Nào hay tiên động non thần lạc đây.
Cơ duyên như thực tỏ bày,
Vua cha hoàng hậu chọn ngày dâng hao.
Ngựa hồng kéo cỗ x era,
Dừng bên tịnh xá mấy nhà trầm vương.
Phật ngồi trên nệm cỏ hương,
Nhà vua đem chuyện lạ thường hỏi thưa.
Phật rằng: “ tiền kiếp xa xưa,
Nơi thành La Nại có nhà giầu sang.
Phát tâm thanh tịnh cúng dàng,
Vi Phật Độc Giác trú hang Nguyệt Tà.
Dị hình cổ quái xấu xa,
Những khi ngài ghé qua nhà hóa trai
Phú Ông có gái trang đài,
Then niêm cổng nguyệt hoa gài rèm châu.
Mỗi khi thấy Phật ngang lầu,
Dung hoa lại thoảng nét sầu kém vui.
Một hôm sắp nhập diệt rồi,
Thần thông hiển tướng độ người trần lao.
Thinh không có tán mây đào,
Kết thành võng gấm cáng vào nhà trai.
Phật ngồi như tuyết như mai,
Môi tươi nét ngọc, tay dài búp tơ,
Tiểu thư quì lạy sững sờ,
Khóc xin sám hối tội xưa ghét người.
Rằng: “con có mắt không ngươi,
Chấp vào hình tướng buông lời khinh chê.
Giờ xin ơn Phật chở che,
Nguyện theo ánh sáng Bồ Đề quy nương”.
Nay là công chúa Kim Cương,
Cũng vì nhân trước khinh thường thánh Tăng.
Lại nhờ sám hối ăn năn,
Sớm hôm tu tạo phước căn để đời.
Nhờ kiếp trước cúng dường người,
Sinh ra đều được vào nơi sang giầu.
Gieo nhân ác, thiện từ lâu,
Quả nay xấu, tốt theo nhau hiện về.
Chúng sinh đắm mãi tham mê,
Nên thân, khẩu, ý : ba bề sóng xô.
Một khi thoát chốn mê đồ,
Quả nhân như thoảng giấc hồ phủi xong.
Kìa ai nhân quả xoay vòng,
Hãy coi như bọt trên sông rì rào.
Có, không chỉ giấc mơ đào,
Cứu người cõi lửa ra vào ngại chi”.
Nghe qua như tỉnh mê si,
Người trong pháp hội bốn bề lặng yên.
Như vừng đông thoắt hiện lên,
Bao nhiêu sương bụi quanh miền vừa tan.
Dướng trong ánh mắt dịu dàng,
Là triêu dương dục trăm đàng nở hoa.

NGỌC NỞ THÀNH SEN
Ngày xưa, một sớm hồng pha,
Áo bầy thôn nữ tỉa hoa ngoại thành.
Truyền nhau tin miệng loan nhanh,
Rằng có một trẻ vừa sanh tuyệt vời.
Trang nghiêm tướng mạo khác đời,
Lòng tay như ngọc tỏa ngời hào quang.
Ai nghe chẳng ghé mai trang,
Đòi xem tận mắt rõ ràng mới thôi.
Thu, Đông tuần tự lần hồi,
Bé trai lớn dậy như chồi tầm xuân.
Tên chàng là Lý Thiện Nhân,
Họ nhà hoan hỷ, hương lân vui vầy.
Chẳng bao trăng khuyết trăng đầy,
Thiện Nhân khôn lớn theo thầy học xa.
Sách kinh chỉ lướt xem qua,
Chàng đem cất sách như là thuộc xong.
Thánh hiền muôn tạng lầu thông,
Lại thêm binh lược kiếm cung thạo tài.
Hai viên ngọc ẩn lóng tay,
Từ lâu ánh sáng cọ hoài chẳng ra.
Nhân thường thăm viếng Phật Đà,
Mang theo y, thực, trầm hoa cúng dường.
Đêm kia đạo nguyệt trong vườn,
Cùng cha, dưới khóm dạ hương tỏ mờ.
Nghe trong thoang thoảng hương đưa,
Dường như hương khiến người tơ tưởng sầu.
Chàng bàn: “ nay bể mai dâu,
Khác chi hương thoảng qua mau dưới thềm.
Mấy người thức ngó trăng lên,
Hay còn chìm ngủ giữa đêm đoạn trường.
Bao nhiêu giả tướng vô thường,
Kết nên ảo giác muôn đường nổi nênh.
Trò đời quán chợ phù vân,
Lợi danh hồ dễ chỉ ngần ấy sao?
Tham si mãi buộc thân vào,
Rồi đây chọn nắm cỏ nào gởi xương.
Chỉ con muốn thoát vô thường,
Cầu đạo giải thoát nơi vườn trúc xanh.
Trước là tỉnh giấc vô minh,
Sau là hóa độ chúng sinh mọi bề”.
Ồng rằng: “cánh hạc bay đi,
Dù non mây thẳm ngại gì chẳng qua.
Nghe con tâm nguyện xuất gia,
Bước chân theo dấu Phật Đà tịnh tu.
Đó là hiếu hạnh đền bù,
Lấy chi sánh được cho dù non cao.
Lòng cha mẹ có thế nào,
Nỡ đâu như mảnh mây đào lấp trăng.”
Nhân nghe xiết đỗi vui mừng,
Cảm lòng cha mẹ đôi dòng lệ quanh,
Hành trang sắp sửa bộ hành,
Suốt đêm ngó mảnh trăng thanh trước lầu.
Sáng ngày mây trắng phau phau
Giục đôi cò đậu cành cau cất mình.
Bay lên chót vót trời xanh,
Cánh tung như thể mấy nhành hoa vương
Con xe băng vút cầu sương,
Mẹ cha tiễn đến bên vườn trúc kia.
Một vùng cỏ mướt mây kề,
Hoa năm sắc nở bên khe lý đào.
Suối mừng cất tiếng nao nao,
Sương mừng sương rớt hạt nào long lanh,
Dưới bờ dương liễu rờn xanh,
Chúng tăng tịch mặc kinh hành đạp hoa.
Y vàng như lớp giang hà,
Trong rừng liễu rũ mấy nhà cỏ thơm.
Theo vào trước Phật , dâng hương,
Chàng xin tu học tỏ tường trình thưa.
Bỗng dưng đôi ngọc năm xưa,
Ẩn lòng tay nọ bây giờ tỏa quang.
Rực lên ánh sáng dị thường,
Biến thành hai đóa sen hường bay lên.
Ngó xanh như ngọc quỳnh tiên,
Lại thêm nghìn cánh mây viền uốn quanh.
Hoa dâng lên đấng cha lành,
Trông như hai đóa mây xanh dịu dàng.
Ngẩn ngơ khắp cả đạo tràng,
Việc chưa từng thấy nơi hàng thế gian.
Hẳn người chin cỏi thiên san,
Hay nơi động phủ mây vàng tịnh tu.
A Nan hiền giả liền thưa:
“ Chuyện này phúc tuệ duyên xưa lẽ nào?
Hẳn gieo đức nghiệp dầy lâu,
Nên hoa sen bỗng từ đâu hóa về.
Xin ngài ân chỉ con nghe,
Vén màn tâm tối kết bè huệ tâm”.
Phật rằng: “ Tứ chúng yên lòng,
Chín mươi mốt kiếp trần hồng trước đây.
Tỳ Bà Thi Phật ra đời,
Như hoa sen nở mấy trời ngát hương.
Phật hiền giáo hóa thế gian,
Chúng sinh vô lượng Niết Bàn an vui.
Thôn kia mới có một người,
Nhà nghèo khó trải bao đời lang thang.
Nuôi thân củi nhánh rau nhành,
Bốn mùa sương gió che manh áo tàn.
Một hôm gặp Phật đăng đàn,
Chuyển kinh diệu ngữ bên ngàn hoa tươi.
Dạo nghe như tỉnh sầu người,
Thành phiền não dựng bao đời xô tan.
Anh kia phát nguyện cúng dàng,
Mà thân còn mảnh áo tàn tính sao,
Chợt nhìn bên lộ dưới ao,
Có bông sen trắng gió nào đưa hương
Thế là thỏa nguyện cúng dường,
Ven ao lội xuống tìm đường ngắt hoa.
Dâng lên cung kính dưới tòa,
Phật cầm giơ một cành hoa mỉm cười.
Lòng vui lạy tạ chân rời,
Tìm thêm hoa khác bên người mang theo.
Lang thang chợ sớm sông chiều,
Búp sen cùng với thân tiều tụy kia.
Gặp ai anh cũng đưa hoa,
Rằng: Hương sen ngát đây là Phật thân.
Người vì thương cõi hồng trần,
Lênh đênh biển khổ muôn phần nổi trôi.
Như hoa thơm giữa bùn hôi,
Hiện ra giải thoát bao người lầm mê.
Tỉnh thôi vào cửa Bồ Đề,
Chúng sinh, Phật cũng quy về một tâm.
Anh gieo huệ nghiệp cao thâm,
Tuyên dương chánh pháp cúng dường chúng sinh
Trải bao bến mộng phù trần,
Trầm luân kể biết bao lần nổi trôi.
Cái thân mây hợp đổi dời,
Duy còn tuệ nghiệp đời đời truyền đăng.
Nguyện lòng rói rõi tâm trăng,
Kết thành ngọc quý hào quang chiếu ngời.
Đi lên trí huệ tuyệt vời,
Cũng là đi xuống thương người trần lao.
Một thân ba cõi ra vào,
Mười phương hóa hiện mây đào hợp tan.
Bây giờ bi trí vẹn toàn,
Tâm như sen nở vô vàn hào quang.
Dù nơi động biếc sương lam,
Dù nơi ngục tối cơ hàn khổ đau.
Huệ hương thoảng đến đâu đâu,
Là trăng giới định nhiệm mầu hóa khai”.
Nghe xong pháp hội người người,
Phát tâm bất thối độ đời chuyển mê.

BẮC CẦU DÂNG PHẬT

Rằng xưa có một nhà kia,
Bên bờ suối liễu bốn bề tùng reo.
Mây bay nườm nườm sớm chiều,
Tiếng chim ăn trái buông đều nhạc rơi.
Ngày kia sinh hạ một trai,
Sương thành hoa gấm bay lơi xuống thềm.
Hương dâng ngát thoảng quanh miền,
Nhân đây mới đặt hoa tiên tên người.
Lớn lên phúc huệ tuyệt vời,
Dáng như mai hạt tính trời từ bi.
Mắt ngời là giếng lưu ly,
Môi là đào mận xuân thì đơm hoa.
Tóc dường suối cẩm vừa sa,
Tiếng như khánh ngọc gương ngà ném tan.
Dựng lầu bên suối họp văn,
Thơ ngâm rạng liễu dạo đàn canh sương.
Nếp nhà cốt cách thư hương,
Kinh hiền ba tạng lầu thông nghĩa mầu.
Một đêm ruổi ngựa qua cầu,
Ôm đàn dạo nguyệt, nghiêng bầu rượu hoa.
Tìm lên ngọn suối vừa sa,
Nghe chim họp bạn trên bờ cỏ tươi.
Bỗng đâu đôi bóng hạc trời,
Thinh không đáp xuống bên người thiết tha.
Cánh dường mây trắng vờn xa,
Tiếng như tay chạm phiếm ngà nên thanh.
Ngậm hoa về phía rừng xanh,
Trải lên vườn trúc, đượm cành trăng sao.
Hoa Tiên thấy chuyện lạ đâu,
Rõi theo ngựa xoải vó câu dặm vàng.
Dừng yên ngoài cổng đạo tràng,
Thấy trên thảm cỏ hàng hàng tỳ kheo.
Vây quanh ngọn lửa hồng reo,
Hướng vào đức Phật, y điều nghiêm trang.
Vừa trông thấy ánh từ quang,
Lòng Hoa Tiên chợt bàng hoàng chuyển y.
Não phiền theo gió tan đi,
Đứng trong sương lạnh dưới vì sao mai.
Sáng ra trở ngựa dặm dài,
Về thăm cha mẹ xin nài xuất gia.
Tin đâu truyền khắp thôn nhà,
Khách vào thăm hỏi, người ra lễ mừng.
Song thân rằng: “ Dẫu nhớ mong,
Cũng xin để cánh chim hồng tung bay.
Một đi chí nguyện cao dầy,
Thoát nơi phiền não lòng này ngưỡng mong.
Dám đâu cạn ý hẹp lòng,
Giam chân tiên hạc trong lồng vàng châu.
Còn như uẩn khuất vì đâu,
Tình duyên oan trái, nên cầu xuất gia.
Lòng con cứ thực tỏ ra?
Trăm muôn nghìn khó mẹ cha nào từ.
Tiên rằng: “ con đã tỏ thưa,
Tự dưng lòng lại mến ưa đạo mầu.
Chẳng vì mục đích tham cầu,
Dù là quả thánh phép mầu thần thông.
Chẳng vì chán cảnh trần hồng,
Chẳng vì một giấc mơ mồng dở dang.
Lòng con siêu thoát mang mang,
Như sông nhớ biển lên đàng đục xuôi”.
Thế rồi cha mẹ thuận lời,
Hôm sau đàn sách chậm rời thôn hoa.
Xuôi đường mấy dặm chim ca,
Đến vườn lục trúc nơi nhà tịnh thanh.
Phật vừa hóa độ trong thành,
Về qua cầu bẻ một cành bạch mai.
Gặp Hoa Tiên đợi sân ngoài,
Người cầm hoa đặt trên vai chàng cười.
Bàng hoàng thốt chẳng nên lời,
Hoa Tiên đôi mắt rạng ngời ánh châu.
Lòng chàng vừa chứng đạo mầu,
Hào quang như kết quanh đầu vòng bông.
Phật hay bốn chúng nghi lòng,
Đến ngồi ngay dưới giàn trồng đậu dưa.
Ngài rằng: “Tiền kiếp xa xưa,
Tỳ Bà Thi Phật, nhất thừa pháp khai.
Một hôm qua ấp thụ trai,
Giữa đường ngài gặp một người thôn dân.
Dưới đầm hoa đứng nhìn lên,
Nhà nghèo nên áo che thân cũng tàn.
Biết lòng ai muốn cúng dàng,
Phật dừng chân chì con đàng uốn quanh:
“Đắp đường lợi lạc chúng sanh,
Cúng dường chính pháp trọn lành biết bao!”
Người kia ngộ lý nhiệm mầu,
Nguyện ra công sửa đường, cầu nơi nơi.
Mặc cho chúng bạn chê cười,
Dần dần anh khiến bao người góp tay.
Cũng nhờ cội phước xưa nay,
Phát tâm bố thí kiếp này giàu sang.
Vừa sinh muôn đám sương vàng,
Kết thành hoa trải thôn làng hương đưa.
Bây giờ gặp lại đại thừa,
Trải cơn mưa lớn, lượng vừa cỏ cây.
Như lòng hạc nhớ non mây,
Như chim bể Bắc họp bầy sang Nam.
Hoa Tiên đã xả bụi vàng,
Hư không vô tướng đâu hàng vết chim”.
Nghe xong người khởi lòng tin,
Nguyện đem nhân quí gieo lên hồng trần.

LUYỆN KIẾM ĐỘ ĐỜI

Thời xưa ở trại Phù vân,
Có giàn thiên lý xanh ngần đơm hoa.
Bốn mùa thu lại xuân qua,
Chim về ăn trái quanh nhà hồng mai.
Chủ nhân sinh được một trai,
Trong ngày sương kết thành đài hoa rơi.
Lại thêm mấy cánh hạc trời,
Múa kêu đôi tiếng tuyệt vời rồi đi.
Mưa hồng ngọc, bụi lưu ly,
Trải quanh nhà cỏ lạ gì ai hay.
Trẻ kia mắt phượng mày ngài,
Vẻ đem so khắp trần ai khó bằng.
Đón thầy thường trụ chùa trăng,
Xuống xem tướng, đặt tên chàng Bảo Thiên.
Thầy rằng:tích đức tu hiền,
Trẻ này hẳn có phúc duyên tột vời.
Làm cho gia thế rạng ngời,
Dậy rồi chống gậy, chân rời thôn hoa.
Vèo thôi đông tới thu qua,
Bảo Thiên khôn lớn, một nhà mừng vui.
Mắt như kiếm ánh sáng ngời,
Mũi cao ống trúc, môi cười ngậm hoa.
Tính hiền ái ngữ nhan hòa,
Hết vào bình lựợc, lại ra thơ đề.
Danh thơm truyền khắp sơn khê,
Bao nhiêu danh sĩ tìm về kết giao.
Làng thôn nổi tiếng kiệt hào,
Cứu người thương vật, xá nào lụy thân.
Một ngày nhân hội nghinh xuân,
Anh em mới rủ vào thành dạo hoa.
Lầu cao vàng thếp muôn tòa,
Võng điều, ngựa tía lại qua dập dìu,
Vui chân tới một xóm nghèo,
Cảnh đâu có cảnh đìu hiu thế này.
Nhà xiêu lụp xụp tanh hôi,
Cả bầy con trẻ nằm ngồi trơ xương.
Khóc quanh một xác sình trương,
Hỏi ra mới biết người phường tiện nhân.
Góa chồng từ độ thanh xuân,
Tháng ngày làm mướn kiếm ăn lần hồi.
Lại còn nuôi lũ con côi,
Rau thiu, gạo hẩm, cơm ôi cũng là.
Hôm kia làm mướn một nhà,
Bị vu đánh cắp mấy tà áo phơi.
Trói ghì tra khảo một hơi,
Người đâu lại có giống người sói lang.
Thân khô da bọc xương tàn,
Chịu sao khỏi trận đòn oan hỡi trời.
Lòng u uất chẳng nên lời,
Thả ra, xác nọ còn hơi thở tàn.
Khiêng về nào được thuốc thang,
Bỏ bầy con dại cơ hàn chết đi.
Cái thân hạ liệt kể gì,
Trăm oan nghìn khổ cũng vì cái thân.
Xóm này toàn lũ hạ nhân,
Dù ai chết rữa ai cần chôn ai.
Chuyện nghe giận bốc dựng mày,
Đổi viên ngọc quý thuê người liệm chôn.
Lại lần hỏi chốn quan môn,
Anh em tìm đến một đường kêu oan.
Quan nào lại nở xử quan,
Cũng phường hút máu tham tàn như ai.
Phán rằng: “bằng cớ chi đây,
Ai xui mi đến làm dầy cửa công?”
Giận bừng như lửa dầu xông,
Thẳng tìm nhà nọ quyết lòng rat ay.
Rằng: quân cậy thế hại người,
Qua đây thấy chuyện ngược đời chẳng dung.
Thế là quyền cước vẫy vùng,
Chợt nghe tướng mạnh quân hùng bổ vây.
Sức nào đọ được muôn người,
Mở đường sống vượt ra ngoài thoát thân.
Tìm về đóng chặt phòng văn,
Rồi đem kinh điển thánh hiền đốt chơi.
Người đâu người lại thịt người,
Thánh thần chỉ để che lời bất nhân.
Thế rồi từ biệt phòng văn,
Bỏ đi khắp chốn xa gần quan chiêm.
Tội tình chỉ bọn dân đen,
Còng lưng nuôi lũ quan trên, đè đầu.
Cùng là một bọn sang giầu,
Thêm hàng giáo sĩ hùa nhau lột người.
Thần linh mấy đỉnh từng trời,
Sách kinh chỉ tổ cho đời lận nhau.
Cũng là một giọt máu dào,
Cũng cùng kiếp sống ai nào khác ai.
Thế mà nuốt sống ăn tươi,
Thế mà kẻ khóc người cười sao đang.
Nhà thì nghèo khổ cơ hàn,
Nhà thì cẩn ngọc giát vàng làm chơi.
Giầu nghèo đâu tự số trời,
Chia phân lại tự lòng người hiện ra.
Một hôm qua suối giang hà,
Tìm vào gặp Phật nơi nhà tịnh thanh.
Bảo Thiên nhác thấy y vàng,
Bao nhiêu vấn nạn lòng chàng tự khai.
Cũng vì tà kiến thương thay,
Biển oan vô thủy chứa đầy lệ thương.
Khổ vui một cuộc vô thường,
Tham mê là nghiệp y nương sâu dày.
Ngoài thềm lãng đãng hoa rơi,
Bảo Thiên thân bỗng tỏa ngời ánh quang.
Thần thông trí lực vô vàn,
Người trong khắp đạo tràng đều hay.
A Nan cung kính chắp tay,
Vội thưa: cội phúc cao dầy lẽ sao?
Phật rằng: “nhân trước duyên sau,
Xả mê khởi ngộ pháp mầu là đây.
Cách vô lượng kiếp cõi này,
Tỳ Bà Thi Phật hiện bày pháp thân.
Độ người vô lượng vi trần,
Nhân gian nào thấy lệ ngần thương đau.
Thị khai diệu pháp sâu mầu,
Cõi trần biển oán non sầu sạch không.
Một hôm hóa độ qua sông,
Gặp người thao luyện kiếm cung trên bờ.
Hàn quang rụng tuyết xa mù,
Ào ào bão nổi, vụt vù mây bay.
Phật qua anh nọ dừng tay,
Bên đường thi lễ vái dài trình thưa.
Rằng: con luyện kiếm từ xưa,
Cách dùng cho đúng thì chưa biết gì.
Ngưỡng mong ơn Phật từ bi,
Dậy cho tiện sĩ cách chi giúp đời?
Phật rằng: kiếm cũng như lời,
Một câu một nhát hại người như chơi.
Kiếm thì hủy một thân thôi,
Lời sai hại đến muôn đời mai sau.
Trí Bi là cách nhiệm mầu,
Tùy duyên bất biến có đâu ngại ngần.
Kiếm dùng ngăn ác phù chân,
Lời dùng giải oán chúng nhân mọi đường.
Kiếm hùng giữ vững kỷ cương,
Lời chân hóa chuyển bốn phương thái hòa.
Tránh cho nước nước nhà nhà,
Khỏi lo hiểm họa can qua bồi hồi.
Cũng tùy phương tiện mà thôi,
Ngăn duyên mê ác dựng đời hiền lương.
Kìa phòng văn nọ chiến trường,
Trợ duyên chính đạo y nương chẳng dời.
Cùng khai tánh trí tuyệt vời,
Tâm từ bi trải muôn loài chúng sinh.
Kiếm thần chặt đứt vô minh,
Ý thầnj giáo hóa nhân quần tan mê.
Thế rồi, từ đó người kia,
Nguyện theo lời Phật tu trì kiếm tâm.
Dù người tỉnh thức mê lầm,
Dù nơi thành thị xuyên sơn chẳng nề.
Giúp đời lợi lạc muôn bề,
Một thân đại nguyện đi về thênh thang.
Trải bao kiếp mộng trần hoàn,
Đời này phúc huệ đôi đàng vẹn đôi.
Thần thông trí phúc tuyệt vời,
Như viên bội ngọc chiếu ngời cõi mê.
Một thân an trụ Bồ Đề,
Muôn thân hóa hiện đi về mười phương.
Nghe xong người khắp đạo trường,
Phát tâm quét sạch tai ương mọi miền.
Phá bờ nhân ngã dưới trên…
Muôn loài như thể một thân khác gì.
Sạch lòng tà kiến mạng si,
Chung xây quốc độ trí bi đại hòa.

HẠNH NHẨN NHỤC

Nhớ hồi Phật tại thành La,
Trong vườn lục trúc ngự nhà giải vân.
Với năm la hán Kiều Trần,
Lại thêm Ca Diếp và ngàn Tỷ Khiêu.
Vượt qua bến mộng phù Kiều,
Như bầy tiên hạc dập dìu cánh bay.
Sớm dời thành Bắc sông Tây,
Chiều sang Nam Hải vui vầy chờ Đông.
Chẳng lưu vết tích trần hồng,
Một đi biền biệt muôn trùng mây đưa.
Bấy giờ dân nước Duyệt kỳ,
Ngợi khen huệ đức một vì thánh vương.
Như bè chính pháp y nương,
Như đêm tối hiện chân thường vừng trăng.
Độ người tà kiến mê lầm,
Qua sông huyễn dục vượt hầm lửa sân.
Dục nhau vượt cõi mê tân,
Dù là cao, hạ, sang bần mặc ai.
Chuyển cơn mưa pháp người, trời…
Trăm đào nghìn tía xanh ngời trái hoa.
Tâm từ trải khắp trần sa,
Nơi nơi thịnh trị, nhà nhà thuận vui.
Lại khen đệ tử muôn người,
Duyên chi mà sớm qui hồi đạo chân.
Một đêm tăng chúng quây quần,
Dưới hoa, quanh bậc cha hiền thưởng nhang.
Trầm thơm phảng phất đạo tràng,
Phật ngồi trên chỏng tre vàng ánh trăng.
Một Tỳ Khưu đứng bạch rằng:
Nhân chi tiền kiếp nay quần tụ đây?
Như trăng hiện giữa đài mây.
Như xuân nở trắng một ngày hoa lê.
Phật rằng: “ ta có lời thề,
Viên thành Phật đạo nguyện về độ tha.
Kể trong vô lượng đời qua,
Cõi này có một vua là Lợi Vương,
Bên thành có núi ùn sương,
Có hoa vàng động, có nương thẫm đào.
Có vị tiên lão hạnh cao,
Năm trăm đệ tử ẩn vào động tu.
Một hôm cùng với nhà vua,
Cung phi ngọc nữ viễn du chốn này.
Nhạc ca, yến tiệc vui vầy,
Kiệu vàng ngự dưới tàng cây trải hồng.
Rượu tàn trầm cũng ngưng xông,
Trên giường còn lại mình rồng ngủ say.
Cung tần mỹ nữ dạo chơi,
Tìm qua hang động viếng người thanh tu.
Một vùng cây cỏ thâm u,
Suối reo biêng biếc, chim gù hắt hiu.
Hoa theo bướm lượn dập dìu,
Sườn non ai bắc nhịp kiều uốn quanh.
Đỉnh non mây kết tàn xanh,
Lối vào sương động lả nhành hoàng mai.
Bước chân lạc nẻo thiên thai,
Áo xanh điệp thúy, dấu hài đạp hương.
Rẽ hoa gặp khách dị thường,
Đặt hai bồ thuốc bên đường nghỉ yên.
Dung nhan lắng sạch ưu phiền,
Khách ngồi bó gối nhìn triền vách mây.
Hỏi ra, chính lão tiên đây,
Cung tần mỹ nữ dâng thầy trầm hoa.
Vây quanh bãi cỏ yên hà,
Lắng nghe thầy dạy trần sa sạch lòng.
Bỗng đâu hiện cỗ kiệu rồng,
Giáo gươm tỏa sáng tàn hồng nghiêng che.
Kể từ vua tỉnh giấc hòe,
Trầm hương sáo nhạc bốn bề bặt yên.
Thét quân thẳng đến động tiên,
Dưới chân mây biếc, bên triền chim ca.
Đến nơi vách núi chiều tà,
Lão tiên ngồi giữa ngàn hoa xum vầy.
Rượu còn phảng phất hương say,
Lòng nghe như thể muôn ngày cuồng phong.
Thất kinh nét tía vẻ hồng,
Nhà vua vừa xuống kiệu hồng oai nghi.
Hạch rằng: người giữ hạnh chi,
Ngồi cùng ngọc nữ tần phi giữa rừng.
Lão cười nói: bẩm đại vương,
Theo hạnh nhẫn nhục lão thường luyện tu.
Vua gầm: thật nhẫn nhục ư?
Rút thanh bảo kiếm chặt lìa đôi tay.
Máu hồng như suối tuôn ngay,
Lão ngồi điềm tĩnh rạng ngời dung nhan.
Vua cười: còn nhẫn nữa chăng?
Lão thưa: hạnh vững ví bằng núi kia.
Khua thanh kiếm báu chớp lìa,
Chặt đôi chân, máu đầm đìa đổ văng,
Cười gằn: lão nhẫn nữa chăng?
Thưa: đời tham giận kiêu căng đọa đày.
Muốn qua bến vọng mê này,
Chỉ còn nhẫn nhục làm thầy y nương.
Lạ thay kinh động mình rồng,
Vứt thanh kiếm báu tỉnh lòng trần sa.
Hào quang chớp lóe sáng lòa,
Sen đâu kết lại một tòa trăm bông.
Lão tiên bay giữa hư không,
Nghìn con nhạn kết tàn hồng nghiêng che.
Lòng vua hối hận sắt se,
Quì bên bãi cỏ đầm đìa lệ vương.
Tiên rằng: tan hợp vô thường,
Nhẫn như tích trượng kim cương chẳng dời.
Nghiệp duyên như sóng trùng khơi,
Tánh không, vằng vặc lưng trời như trăng.
Nhà vua cung kính xin rằng:
Dậy cho đệ tử pháp hiền nhẫn tu.
Lão truyền: do phát tâm từ,
Yêu thương vô lượng, diệt trừ huyễn sanh.
Chẳng vị tha, ngã, cách ngăn,
Ngại chi giả tướng muôn thành khói mây.
Trên đài sen thoảng hương bay,
Lão tiên vóc thể nguyên đầy vàng châu:
Tay hoa mười búp nhiệm mầu,
Chân tươi vẻ ngọc dáng đâu tuyệt vời.
Nhà vua sám hối, nghẹn lời,
Nguyện dùng gươm diệt ba đời vọng căn.
Nguyện khi đắc đạo chí chân,
Sẽ vào cứu độ hồng trần tham mê.
Bỗng dưng mây kéo ập về,
Sấm gầm gió thét bốn bề chớp giăng.
Số là thần, quỉ, long vương,
Giận vua Ca Lợi, nổi cơn lôi đình.
Tham tàn sát hại thánh nhân,
Quyết mang búa sét diệt quân bạo tàn.
Đánh cho ngọc nát vàng tan,
Lửa trời phóng đốt muôn đoàn ngựa xe.
Vua quan vía khiếp hồn ghê,
Tiên sai hạc kết tàn che khắp trời.
Lại khuyên rồng quỉ hờn nguôi,
Từ bi tha kẻ qui hồi lẽ công.
Tự nhiên trời lạnh trăng trong,
Cúi đầu lễ tạ mình rồng lên xe.
Một đoàn cờ dựng tàn che,
Thớt voi bành ngọc chẩy về thành hoa.
Bấy giờ có bọn pháp gia,
Thấy vua cung kính đại mà ghét ghen.
Thuê người đồn đãi phao truyền,
Đặt điều nói xấu lão tiên khắp vùng.
Ngày kia chợt lọt hoàng cung,
Vua truyền quân lính truy lùng khảo tra.
Mới hay mưu bọn pháp gia,
Một đêm nhốt hết ngàn nhà chủ trương.
Tin vừa đưa đến non sương,
Lão tiên hóa hiện thần thông về thành.
Xin vua mở đức hiếu sinh,
Rộng tha cả bọn vô minh sâu dầy.
Để gieo ân đức kiếp này,
Hướng về Phật quả tròn đầy mai sau.
Tẩy trừ nghiệp thức mê sầu,
Độ cho ngoại đạo bắc cầu chấp nê.
Kiếp xưa tiên lão Sàn Đề,
Tiền thân ta lại hiện về hôm nay.
Vua Ca Lợi trước là đây,
Kiều Trần Như nghiệp sâu dày sạch tan.
Đại thần bốn vị lão quan,
Đời này cũng khoác y vàng tỳ khưu.
Vượt qua ải mộng oan cừu,
Bây giờ năm vị còn lưu vườn này.
Cầm đầu ngoại đạo là đây,
Hiện thân Ca Diếp ngày rày về theo.
Lại thêm ngàn vị tỳ khiêu,
Cũng từ kiếp nọ đặt điều mê sân.
Đổi thay bao xác hồng trần,
Trước sau rồi lại quay quần chung nhau.
Sóng tàn, nước có hao đâu,
Mây tan, lại sáng lầu lầu viền trăng”.
Nghe xong tăng chúng bàng hoàng,
Trông ra thấp thoáng y vàng dấu sương
Chẳng còn mê sợ vô thường,
Tâm cúng trời đất, trăm đường hóa sinh.
Như mầm xuyên đất vô minh,
Nở hoa kết trái yên bình thiên thu.


CHÍNH ĐẠO

Trong làn gió sớm vi vu,
Vườn Kỳ trăm dặm sương mù còn vây.
Chim vừa thức động lá cây,
A-Nan dâng nước hầu thầy đã xong.
Ung dung đến dưới cội hồng,
Ngồi trên tảng đá, trải lòng từ bi.
Quán mười phương cõi lưu ly,
Nước mây tạo vật thu về một thân.
Dù là mảy gợn vi trần.
Dù là biển lớn xanh ngần sóng khơi.
Dù là sáu nẻo luân hồi,
Cõi tiên cho đến muôn loài chúng sinh.
Cũng đồng một thể quanh mình,
Cũng đều giả hợp muôn hình hoa không.
Khởi duyên mười cõi trùng trùng,
Như trăng phản chiếu giữa rừng ma ni.
Chẳng hay tiền kiếp nhân gì,
Nhóm Kiều Trần nọ tìm về nước tiên.
Tiếp thu ánh sáng đạo huyền,
Hẳn vô lượng kiếp phúc duyên tạo nhiều.
Nghiệp căn muốn rõ mọi điều,
Lụy phiền ai dễ sớm chiều đổi thay.
Liền tìm bờ suối qua ngay,
Bên kia thấp thoáng áo thầy nắng pha.
Xuôi dòng man mác đào hoa,
Hồng như chân Phật la đà dạo sương.
Thưa thầy: “Đại mộng vô thường,
Nhân chi kiếp trước, Kiều Trần phát tâm?
Một lòng theo đấng pháp vương,
Hòa mình giữa biển tình thương mọi loài”.
Nhìn chùm lóng lánh sương mai,
Rơi theo dòng nước như đài sương tan.
Ngài với hiền giả A-Nan,
Ngồi lên cội đá dưới tàng sương bay.
Phật rằng: “ nhân trước duyên nay,
Quẩn quanh cùng một cõi này vào ra.
Cách đây vô lượng hằng sa,
Có vua một cõi tên là Đạo Duyên.
Đức ngài quỉ khiếp trời kiêng,
Nước non cường thịnh muôn miền yên vui.
Nhà vua mang đạo trị đời,
Giúp cho tâm trí người người mở khai.
Nghiệp chung thấm đất tươi cây,
Nương chính pháp tám mối dây giữ gìn.
Chánh kiến là pháp thông tin.
Lấy chân thực tạo muôn nghìn thiện duyên
Nặng vì dân, nhẹ vì quyền,
Người tin người chẳng giữ niềm ngại nghi.
Giáo dục theo chánh Tư Duy,
Dậy người khai mở trăm bề trí tâm
Hiển tài đức bạt mê lầm,
Như mưa xuân đượm ươm mầm tiếp hoa.
Trí, bi, tướng dụng điều hòa,
Khơi nên sức sống người ta dạt dào.
Chánh ngữ là pháp Ngoại Gial,
Người nào chẳng thuận, nước nào chẳng thân
Khiến cho khắp cõi xa gần,
Kết thành một khối nghĩa nhân cộng hòa.
Lại đem xã tắc sơn hà,
Chánh nghiệp là pháp quốc gia an bài,
Người muôn tánh, sự muôn loài,
Dung trong một đức, dung ngoài tùy phương.
Chọn giao đúng bực hiền lương,
Ác ngăn, khuyến thiện, trăm đường thuận duyên
Chánh mạng là pháp kinh quyền,
Xây nền kinh tế dưới trên đồng đều,
Mỗi người mỗi việc chuyên theo,
Tạo nên cuộc sống muôn chiều văn minh.
Một là lợi lạc dân sinh,
Hai là cộng hưởng thái bình muôn phương.
Lại theo chánh Niệm y nương,
Đắp nền văn hóa trăm đường chuyển khai.
Phục khôi vương vị con người,
Thăng hoa đến cả muôn loài một tâm.
Hiển trí huệ giữa mê lầm,
Gieo nhân huệ nghiệp nghìn năm dõi truyền.
Tinh tấn là pháp yên dân,
Nhà giam là chốn tu thân chuyển dời.
Nhân hiền hạnh sĩ nơi nơi,
Cùng về giáo hóa cảm người tham si.
Răn người cốt lấy từ bi,
Trị người cốt lấy từ bi làm đầu.
Nhân duyên gội sạch làu làu,
Yên dân trước giải oán sầu trước tiên.
Chánh định phép dựng đạo duyên,
Là nền quốc giáo thiêng liêng hóa đời.
Tinh hoa kết tụ nên người,
Chân tâm vô trụ nơi nơi diệu hành.
Một là mở đức hiếu sinh,
Hai là chuyển nghiệp vô minh sâu dày.
Nghiệp riêng tùy chốn tùy thời,
Nghiệp chung sáng mãi muôn đời còn lưu.
Vua truyền tu thiện mười điều:
Một cấm nghiệp sát lại điều quần sinh.
Khiến trừ phiền não vô minh,
Tâm không điên đảo thân mình sống lâu.
Dù là trú ngụ nơi đâu,
Hiền hòa giải oán vơi sầu vùng quanh.
Mệnh chung thần thức hóa sanh,
Cõi trời an lạc, đẹp lành phúc thân.
Hai cấm trộm cắp bất nhân,
Lại đem bố thí muôn phần rộng xa.
Khiến đời phú quí vinh hoa,
Phước sinh tốt đẹp muôn nhà nể kiêng.
Sáng danh kẻ đức người hiền.
Trong ngoài hòa thuận dưới trên kính nhường.
Ba cấm bất chánh tà dâm,
Khuyên người ra sức lỗi lầm sửa sang.
Khiến nên yên nước yên làng,
Vợ chồng tiết nghĩa đá vàng nên đôi.
Bốn cấm vọng ngữ dối lời,
Khuyên trọng chân thật cho đời cậy tin.
Khiến lời như ướp hương sen,
Để người phân biệt trắng đen rạch ròi.
Nêu cao gương sáng chói ngời,
Cõi thiên cung kính, người đời mến yêu.
Năm cấm miệng lưỡi đôi chiều,
Để giữ hòa hợp thuận theo nghiệp lành.
Giúp nhau tuệ nghiệp viên thành,
Là khuôn thước để chúng sanh theo về.
Dù nơi bình lửa sơn khê,
Phước sinh quyến thuộc mọi bề yên vui.
Sáu lìa ác ý, hại lời
Là nhân giải thoát, khỏi nơi đọa đầy.
Bảy cấm lời nói đặt bầy,
Khiến bớt ảo ảnh trùng vây trần hồng.
Tám lìa tham dục, bợn lòng,
Khuyên người bố thí chẳng mong đắc cầu.
Nên chi ba nghiệp nhiệm mầu,
Tâm như viên ngọc minh châu dẫn đường.
Chia lìa sân hận vấn vương,
Mưu điều an lạc cúng dường chúng sinh.
Lòng như trời rộng mông mênh,
Trần gian như một gia đình tương thân.
Mười lìa tà kiến mê sân,
Trí như nhật nguyệt xa gần dõi soi.
Tâm tự tại giữa đổi dời,
Nghiệp lành sinh hóa cõi trời lưu ly.
Dân đem công đức hướng về,
Nguyện thành Phật quả chuyển mê độ đời.
Chân tâm khai mở sáng ngời,
Một thân hóa độ nơi nơi an hòa.
Nghiệp lành trải khắp trùng hoa,
Trần gian dựng một tháp tòa kim cương.
Nước trời thịnh trị mười phương,
Buổi kia vua ngự thềm hương trăng ngà
Với đoàn cung nữ thướt tha,
Vũ nghiêng nền bích, nhạc sa dặm hồng.
Tay nào nhạn lượn hư không.
Tóc nào hương quyện mây bồng lá dâu.
Bước trầm nhạc dịu mưa ngâu,
Áo bay như bướm muôn màu lả lơi.
Tiếng vàng mây cuốn tơ rơi,
Nao nao cánh gió rã rời nước sông.
Một cung hờn tía sầu hồng,
Hai cung khánh đá chuông đồng vò tơ.
Nửa nghe mây trắng hững hờ,
Nửa nghe chim hót bên bờ khói lên.
Nhà vua đang ngự trên thềm,
Chừng như xênh phách cũng rên sụt sùi.
Chợt đâu hiện đến năm người
Bước chân lảo đảo như rời rã xương.
Nanh nhe, vuốt nhọn dị thường.
Khóc than cảm đến lòng thương vua hiền.
Giắt nhau quì mọp ngoài hiên:
“ Bọn tôi dịch quỉ ẩn miền ngục sâu.
Đi tìm máu mủ nuôi nhau,
Bắt người gieo oán gieo sầu, phanh thây.
Từ ngày vua trị cõi này,
Hoằng khai đạo lớn độ người trầm luân.
Khiến ai cũng hết tham sân,
Tiến tu thập thiện, muôn phần phúc oai.
Dù là ma, quỉ, thần, trời,
Cũng đều theo bảo hộ người thiện tâm.
Thân tôi nặng nghiệp mê lầm,
Trải bao đời kiếp trong hầm lửa thiêu.
Tìm ra bến sớm chợ chiều,
Chẳng còn kẻ ác, thêm tiều tụy thân.
Đâu đâu cũng gặp thiện thần,
Hộ người giới đức vạn phần uy nghi.
Cúi xin mở lượng từ bi,
Cứu cho giờ biết lấy gì sống đây.
Chúng con vất vưởng bao ngày,
Cổ như lửa bỏng, thân gầy rạc xương.
Cũng liều ghé cửa mình vương,
Xin người cứu khỏi tai ương phận này.
Lòng vua thương kẻ đọa đày,
Kéo lê một kiếp dạn dày gió sương.
Bên mình đeo sẵn thanh gươm,
Rút đâm một nhát mình rồng máu hoen.
Vua truyền: Dùng đỡ một phen,
Quỉ kia xúm lại vui mừng xiết bao.
Nhe nanh ngồi hút máu đào,
No rồi, quì gối lạy chào xin đi.
Vua khuyên: mau tỉnh sân si,
Làm thân quỉ đói cũng vì nhân xưa.
Tham lam, tranh chấp mê mờ,
Buôn xương bán thịt nên giờ khổ thay.
Gắng tu thập thiện giới trai,
Quyết lìa quả báo đọa đày ngục sâu.
Ta thành chính giác mai sau,
Nguyện đem giới huyết nhiệm mầu độ cho.
Giắt lũ người thoát mê đồ,
Vượt sông tham giận qua bờ an vui.
Bây giờ vẫn nhóm năm người,
Là Kiều Trần đó, ở nơi nhân hoàn.
Ngày xưa sám hối ăn năn,
Tu mười thiện nghiệp, trồng căn nhiệm mầu.
Thoát kiếp dịch quỉ ngục sâu,
Đời này lại sạch tham sầu qua sông.
Quẩn quanh sáu ngã trần hồng,
Tỉnh cơn trường mộng ngoài vòng khởi duyên.
Phật xuống suối, khỏa chân lên,
Nghe chim ríu rít bên triền non mai.
Thầy trò theo rặng hoa bay,
Trở về tịnh xá, qua vài cụm sương.

PHÉP MẦU KHAI NGỘ

Nhớ thời Phật tại thành vương,
Cùng chư đệ tử ngự vườn trúc xanh.
Vua Bình Xa phát nguyện lành,
Qui y Tam Bảo tu hành đã lâu.
Khuyến dân tinh tấn đạo mầu,
Trị đời lấy giải oán sầu làm phương.
Dưới trên nhuần một lòng thương,
Dân giàu nước mạnh biên cương vững bền.
Người người chung một niềm tin,
Noi theo Phật đạo hiếu sinh hiếu hòa.
Biên cương có bọn Phú Na,
Lấy điều tà hoặc để mà trị dân.
Khiến lòng thiên chấp chia phân,
Lập bè kết đảng muôn phần đảo điên.
Dẫn người vào nẻo cuồng xiên,
Dễ bề bóc lột dưới trên đủ điều.
Em nhà vua cũng tin theo,
Tham, si, tà kiến, mạn kiêu dấy lòng.
Vua Bình Xa vẫn hằng mong,
Đưa em về nẻo trắng trong Đạo Từ.
Kẻo trăm năm uổng thân rùa,
Dưới lòng ao biết đâu bờ biển Đông.
Một hôm vua dạo bên sông,
Chỉ em, Ngài hỏi: “ mấy dòng nước xuôi?”
Gã thưa: “ chảy một dòng thôi”.
Vua khuyên: “ nào khác cõi người thế gian.
Trên hòa, dưới thuận, bình an,
Nước ta nhuần thấm đạo vàng bấy nay.
Sáng soi như thể mặt trời,
Khiến muôn cây cỏ nảy chồi đơm hoa.
Cớ chi em lại lìa xa,
Con đường trung đạo hiếu hòa hiếu sinh.
Chấp theo tà kiến vô minh,
Lập bè kết đảng cố tình phân chia.
Sao chưa lìa bỏ, theo về,
Qui nương chính đạo đôi bề vẹn đôi.
Một là trí huệ sáng ngời,
Hai nêu gương chánh, muôn người hướng theo.
Gã rằng: “ nước có một chiều,
“ Mà trăm sông lớn về theo biển trùng.
Người ta muôn ý muôn lòng,
Dù trăm ngả cũng trong vòng thấp cao.
Như tôi tôn quí đạo nào,
Là tùy sở thích, ra vào mặc ai.
Ai mà chẳng nghĩ mình hay,
Ai mà chẳng chấp cho thầy mình hơn.
“ Bây giờ muốn rõ nguồn cơn,
Mời hai giáo chủ song phương luận tài.
Thầy anh nếu quả tuyệt vời,
Thì em nguyện sẽ trọn đời xin nương,
Ví bằng thầy của tôi hơn,
Thì xin ngài cũng lựa đường theo tôi”.
Vua cười: “ em chớ quên lời,
Ngày mai ta sẽ thân mời đôi bên.
Khiến người khởi vững lòng tin,
Lìa nơi u tối về tìm đạo quang”.
Sáng mai, kiệu tía lọng vàng,
Nhà vua thân đến đạo tràng trình thưa.
Rằng: “ xin ngài chuyển Phật thừa,
Mở khai nhật nguyệt, mây mờ dẹp tan.
Cho người tránh khỏi nguy nàn,
Cho đời thoát khỏi nát tan hận thù.
Cầu xin dưới ánh đạo từ,
Dám xin thỉnh đấng pháp sư muôn loài.
Ra tay cứu vớt trần ai,
Xiển dương chính đạo thức người lầm mê.
Dắt dìu bọn ngoại đạo kia,
Bừng con mắt tối theo về nẻo chân.
Giúp cho muôn phước muôn dân.
Chẳng còn thù hận, chia phân mọi bề”.
Sáng ngày hoa kết tàn che,
Dựng đài chuyển pháp lập lòe vàng châu.
Lại truyền làng trúc thôn dâu,
Cho dân về học đạo mầu Như Lai.
Hôm sau vừa lúc ban mai,
Mây hồng man mác bên ngoài thành hoa.
Người như thác lũ đổ ra,
Ngồi trên nội cỏ quanh tòa khói hương.
Chập chờn giữa ánh mây vương,
Người đem chim thả cúng dường Phật tăng.
Giữa tòa trần thiết nghiêm trang,
Ghế bành ngọc trải nhung vàng, gấm xanh.
Lục sư sớm tụ trên đàn,
Nghênh ngang bước đến chiếm hàng đôn cao.
Dưới đài dân chúng xôn xao,
Vua Bình Xa đón Phật vào tòa hương
Mưa hoa trải xuống cúng dường,
Tiếng chim rộn rã, bên đường tung bay.
Vừa trông thấy Phật lạ thay!
Lục sư vội bước xuống đài cung nghinh.
Lại mời Phật ngự tòa trên,
Bỗng dưng hàng ghế cao liền ngang nhau.
Ngoại đạo thân đứng quanh hầu,
Thỉnh Phật thuyết pháp nhiệm mầu lắng nghe.
Em nhà vua thực não nề!
Biết thầy mình chẳng có gì hơn ai.
Nhưng vì lòng chấp sâu dầy,
Quyết tâm gã vội đi ngay viện cầu.
Khi Phật vừa giảng đạo mầu,
Người nghe chợt thấy oán sầu tiêu tan.
Như mưa trải khắp thế gian,
Tùy căn cơ đắc vô vàn huệ tâm.
Khởi giác tính, bạt mê lầm,
Nguyện về theo Phật như đầm trổ sen.
Mây xanh phủ xuống quanh miền,
Hoa dâng hương ngát, gió lên dịu dàng.
Phật rời tòa, đắp y vàng,
Cùng thánh đệ tử xuống đàn trầm hương.
Vua đem văn võ đôi đường,
Tiễn chân Phật tới bên đường đào hoa.
Lại kể, em vua Bình Xa,
Sẵn xe ngựa tốt dời nhà đi ngay.
Đang như bị lửa nung thây,
Lại nghe tín hữu lìa thầy bỏ đi.
Về nương cõi đạo từ bi,
Lẽ đâu ta lép một bề như ai.
Thế rồi đôn đáo Đông Tây,
Họp chung lục đạo tìm ngay biện tài.
Lại đem lý thuyết suy bầy,
Quyết tâm luận chiến phen nầy xem sao.
Vội vàng thầy tớ theo nhau,
Kéo về kinh đọ pháp mầu cùng ai.
Tin vừa trình đến bên tai,
Nhà vua thở ngắn than dài, gọi em.
Rằng: “ Ngươi lời hứa dễ quên,
Cố tình nhắm mắt trước đèn được sao.
Thần dân đã rõ thấp cao,
Lẽ nào em chẳng nương vào qui y?
Đầy thân mãi chốn mê si,
Gây thêm lắm chuyện cũng vì đảo điên”.
Gã rằng: “ thử lại một phen,
Để cho vàng đá trắng đen tỏ tường.
Vả chăng đạo chẳng một đường,
Mỗi người riêng một sở trường kém đâu.
Nếu như đạo Thích nhiệm mầu,
Vàng ròng nào sợ lửa đâu mà chùn?”
Vua rằng: “Đành cũng chiều lòng,
Mong em tỉnh giấc trần hồng đảo điên.
Khiến thêm kiên cố lòng tin,
Rừng mê em nhớ nên tìm lối qua”.
Nói rồi ngự cỗ long xa,
Đến vườn đào lý nơi nhà tịnh thanh.
Vua thưa: “ tùy thuận chúng sanh,
Lại xin Phật pháp mở lành một phen.
Cho người tắt lửa đua chen,
Cho người thoát lưới đảo điên ưu sầu.
Thỉnh thầy hiển lộ đạo mầu,
Nhiếp thu ngoại đạo quay đầu về nương.”
Ngài dừng bên suối mây vương,
Nhìn hoa đào trổ bên đường đua tươi.
Vỗ vai vua Phật mỉm cười,
Vua liền lễ tạ thân dời cầu mai.
Tàn trương, trống thúc, cờ bay,
Về thành truyền dựng pháp đài nguy nga.
Tin đưa thấu khắp gần xa,
Phật cùng lục đạo Phú Na luận bàn.
Xôn xao ải Bắc thành Nam,
Phố trong xe ngựa, bên thành lều căng.
Vui như mở hội hoa đăng,
Dưới đèn tỏa bạc, trên trăng giãi đào.
Đến ngày luận đạo thấp cao,
Bỗng dưng dân chúng nôn nao phố phường.
Kể rằng từ sáng tinh sương,
Phật cùng đệ tử lên đường vân du.
Khiến người ngoại đạo lục sư,
Nghe tin, thích chí say sưa tự hào.
Người em bước thấp bước cao,
Dương dương mày mặt tìm vào gặp vua.
Rằng: “ Trúc lâm vắng như tờ,
Hỏi ra mới biết cuốn cờ kéo đi,
Chạy qua nước Tỳ Xá Ly,
Tưởng rằng trốn lánh dễ gì thoát sao.
Ví dù lẩn dấu non cao,
Hoặc nơi địa ngục, trời nào thứ tha.
Bây giờ khắp sáu đạo gia,
Quyết tìm vạch mặt Phật Đà làm gương.
Xem ai lạc nẻo sai đường,
Xem ai đầy chốn mù sương mãi nào?”
Lòng vua trăm mối nao nao,
Hẳn đây có ẩn ý nào sâu xa!
Thiết triều ủy việc quốc gia,
Rồi vua theo Phật đến nhà Luật Xương.
Lục sư cũng lại hùa sang,
Vênh vênh phách lối, huyênh hoang đủ điều:
Rằng: “ Tôi hẹn thí phép mầu,
Ai ngờ họ Thích kéo nhau ẩn mình.
Nếu xin thua, cũng vị tình,
Cớ chi mà phải ôm bình qua đây.
Nhờ ông nhắn sau bảy ngày,
Bọn tôi xin đợi chốn này cung nghinh!”
Luật xương nghe nén bất bình,
Lại thương cho bọn vô minh bất tài.
Thấp cao ở đức hạnh người,
Phải đấu tranh cãi tìm lời hơn thua.
Ngã, nhân rũ sạch bao giờ,
Còn chi cao thấp, trong bờ vọng mê.
Ôi thôi! Cái bọn ngu si,
Ếch nằm đáy giếng biết gì trời đâu.
Nghĩ rồi ông cũng gật đầu,
Hứa đem thỉnh Phật sở cầu bọn kia.
Lục sư đắc ý quay về,
Nghênh ngang dưới mắt bốn bề không ai.
Luật Xương thân đến hầu Ngài,
Chấp tay lễ Phật, tỏ ngay sự tình.
Phật cười đỡ dậy tiếp nghinh,
Non Tây ráng đỏ vươn mình trôi mau.
Luật Xương vái tạ cúi đầu,
Lên yên đủng đỉnh qua cầu gió trăng.
Về nhà sửa lễ cúng dàng,
Lại sai người lập pháp đàn trang nghiêm.
Cáo cho dân chúng quanh miền,
Biết ngày Phật chuyển pháp hiền độ sinh.
Bẩy ngày sau vừa bình minh,
Lục sư tìm đến lễ đình theo nhau.
Đợi hoài chẳng thấy Phật đâu,
Mới hay ngài đã sang châu Diệm Thành.
Vua Ưu Điền tự thân hành,
Ra ải đón bực cha lành nhân thiên.
Lục sư vừa mới hay tin,
Cùng Luật Xương với vua Bình Xa theo.
Vội qua châu Diệm hoàng trào,
Thừa cơ hội, họ lẻn vào khoe khoang.
Rằng: Thần thách thức Cồ Đàm,
Trổ thi thần phép, tranh bàn đạo sâu.
Hai lần hứa chẳng thấy đâu,
Ai dè họ Thích kéo nhau lẩn hoài!
Bây giờ thần ngụ nhờ đây,
Xin vua truyền bắt tớ thầy họ kia.
Thấp cao cho rõ mọi bề,
Cho người còn đắm giấc mê giật mình.
Vua Ưu Điền nén bất bình,
Cũng vì nghĩ nể chút tình lý lân.
Bằng không đã thét ba quân,
Bêu đầu cả bọn chẳng cần đúng sai.
Làm thinh vua bỏ ra ngoài,
Ghé qua chầu Phật trình bày việc kia.
Mỉm cười Phật chẳng nói gì,
Nhà vua từ tạ lui về long xa.
Sáng sau truyền dựng pháp tòa,
Lại cho dân biết để mà ân chime.
Đến ngày thi triển phép thiêng,
Đã nghe Phật sớm dời miền bỏ đi.
Hóa duyên tới nước Việt Kỳ,
Vua Đà La đón nghinh về thành Tây.
Vua Ưu Điền được tin này,
Kíp cùng nhập bọn theo thầy phò nghinh.
Lục sư cũng dõi lộ trình,
Lẩn vào triều kiến mặc tình khoe khoang.
Lại xin vua lập pháp đàn,
Quyết hơn thiệt với Cồ Đàm một phen.
Đạo mầu cho rõ dưới trên,
Để ai đánh lận con đen mãi nào.
Khắp thành đồn đãi xôn xao,
Nghe vua thiết lập đài cao mấy tầng.
Sáng sau Phật lại lên đàng,
Trở qua Thi Lợi thành vàng hóa trai.
Vua Nhân Đà sửa vườn mai,
Lập nên tịnh xá, hầu ngài sớm hôm.
Tin ba vua nước láng giềng.
Theo phò chính pháp cũng liền tới nơi.
Lục Sư cũng đến kịp thời,
Phao truyền kênh kiệu khiến người xôn xao.
Sân rồng xin được qua chầu,
Một đàn thi triển pháp mầu vua coi.
Cầu xin thách đấu với người,
Nhờ vua ngự giữa trọng tài cuộc thi.
Sáng ngày Phật lại tìm đi,
Sang Ba La Nại kinh kỳ viếng thăm.
Vua Phạm Đạt Ngự ngoài thành,
Thỉnh Phật cùng với chúng tăng cúng dường.
Lại nghe tin nhạn biên cương,
Quốc vương bốn nước lên đường kéo sang.
Theo phò ánh sáng từ quang,
Lục Sư lại đến khoe khoang đủ điều.
Sáng sau Phật lại xuôi theo,
Băng sông mây nổi, vượt đèo hoa vương.
Qua Tỳ La Vệ cố hương,
Vua cùng họ Thích ra đường cung nghinh.
Thỉnh Phật thuyết pháp độ sinh,
Truyền lưu mối đạo tôn vinh đời đời.
Lại nghe vua Phạm sang chơi,
Cùng vua bốn nước rợp trời tàn xe.
Lục Sư cũng lại theo kề,
Lắm bề cao ngạo lắm bề vọng ngôn.
Thách Phật tỷ thí thần thông,
Dựng nhà thiệt chiến, rước công chúng vào.
Sáng sau Phật lại qua cầu,
Bước đi mỗi bước nhiệm mầu hóa khai.
Tìm sang Xá Vệ rừng mai,
Vua Ba Tư Nặc mời ngài dừng chân.
Đón về cung dưỡng muôn phần,
Sớm chiều vua tới đôi lần vấn an.
Tin về rằng có vua quan,
Cùng dân sáu nước theo sang thỉnh mời.
Lục Sư cũng kịp tới nơi,
Xin vào chầu mới hé lời nọ kia.
Vua truyền rằng: “ chớ ho he,
Phật đâu phải lứa cá mè với ngươi.
Như Lai trí huệ tột vời,
Nhớ đêm thành đạo sáng soi Bồ Đề.
Ma Do Tuần hiện thân về,
Binh hùng, tướng mạnh bốn bề quần bôn.
Thế mà vỡ mật tan hồn,
Nép đầu dưới bóng thế Tôn Đại Từ.
Còn ngươi lục súc, lục sư,
Cái phường tôm tép thật chưa biết mình.
Lẽ nào ta thét vệ binh,
Bắt bay bỏ ngục hành hình lột da.
Biết điều mau lánh cho xa,
Nếu không ắt hóa làm ma cụt đầu.
Còn như sám hối bảo nhau.
Theo về dưới ánh đạo mầu Thế Tôn.
Thì ta cũng sẽ ra ơn,
Cầu cho Phật ngự pháp đàn độ nhân”.
Thế là ríu ríu lui chân,
Chẳng còn hồn vía bần thần theo nhau.
Một đoàn cúi mặt lủi đầu,
Bên thành, bước thấp bước cao trở về.
Thôi thì dạ ủ mặt ê,
Thôi thì tài phép hết bề khoe khoang.
Vòn vua kiệu ngọc tàn vàng,
Tim qua thăm Phật đôi hàng ngựa voi.
Lưng đồi mai rụng trăng soi,
Nhà vua gặp Phật đang ngồi giữa sân.
Bóng hoa mờ ảo dưới chân,
Như thu vàng cúc, như xuân hồng đào.
Vẳng nghe sáo nhạc nao nao,
Bên ngoài, các nước tìm vào vấn an,
Khơi trầm thơm ngắm trăng vàng,
Ngồi quanh khắp mặt vua quan hầu thầu.
Nỗi lòng ấm lạnh bấy nay,
Nghiêng bình trà nguyệt vơi đầy chén sao.
Phật ngồi dưới cội băng đào,
Hoa lay như cánh hạc vào thái hư.
Vua bảy nước thỉnh Phật thừa,
Khai chuông diệu pháp, trải mưa hòa bình.
Hiển bi trí bạt vô minh,
Rộng phương tiện dắt chúng sinh qua bờ.
Ba lần tha thiết trình thưa,
Phật cười: “ Thầy đã đến giờ độ tha”.
Sáng sau nghi thiết trầm hoa,
Một lò hương tỏa trên tòa vàng châu.
Tin về cuối biển non sâu,
Người hay Phật chuyển pháp mầu tìm nghe.
Bốn bề cờ dựng tàn che,
Lưng trời ai kết một bè mây xanh.
Lục Sư cũng đến bên thành,
Trổ tài pháp thuật tranh dành được thua.
Vừa trông thấy dáng đại từ,
Lòng kiêu mạn bỗng tan như khói chiều.
Một đoàn kẻ trước người sau,
Cúi đầu lễ Phật xin cầu pháp tu.
Ngài cầm mấy nhành liễu tơ,
Lên đài giữa một rừng cờ đua reo,
Dáng như mây ửng tơ chiều,
Mắt như hai mảnh điu hiu nguyệt tà.
Bàn tay ngọc chuốt vàng pha,
Cầm nhành liễu bỗng phất nhòa phương Đông.
Hiện ra rừng rậm mênh mông,
Cây cao trăm trượng chập trùng xuyên mây.
Trông như ngọc rát vàng xây,
Hoa năm sắc sáng, lá cây muôn màu.
Hương rừng thoảng đến nơi đâu,
Hương rừng thoảng đến nơi đâu,
Là người cởi oán tan sầu như chơi.
Gió rừng dâng nhạc chơi vơi,
Là chuông tỉnh thức cõi người ngân vang.
Hoa rừng tỏa chiếu hào quang,
Kết thành tám nẻo đường vàng như tơ.
Khu rừng là nhạc là thơ,
Khiến người mến đạo vượt bờ tử sinh.
Tâm bình thế giới cũng bình,
Mười phương vũ trụ mông mênh hiện bầy.
Phật vừa biến hóa cõi này,
Đưa người thoát kiếp tù đày chiến tranh,
Sáng sau người lại vân hành,
Bước chân theo hạt giống lành đất kia.
Vua ưu Điền thỉnh Phật về,
Mở khai chính đạo chuyển mê bạt sầu.
Phật hóa hai núi nhiệm mầu,
San hô óng ánh, minh châu chói lòa.
Đỉnh non cây trải mưa hoa,
Phủ trên mái tháp mấy tòa ngọc xây.
Lại thêm cửa động nuốt mây,
Tuôn ra dòng suối dâng đầy hoa thơm.
Hắt hiu tiếng địch tiếng đờn,
Một đàn hạc trắng bay vờn hòa theo.
Vách non cỏ biếc mầu chiều,
Cành lê chín thẫm cheo leo mấy tàng.
Chân non thảm lúa tươi vàng,
Gió đưa sông nổi mênh mang dạt dào.
Người theo lạch suối hoa đào,
Hết ăn trái chín lại vào động hương.
Nao nao khói nổi mây vương,
Ai đan mây khói vô thường thành thơ.
Não phiền vừa thoảng cơn mơ,
Lòng như hoa nở đón chờ xuân sang.
Lại nghe lời Phật ngân vang,
Bừng khai trí tuệ nghiêm trang diệu kỳ.
Ba ngày sau Phật lại đi,
Thể theo dân nước Việt Kỳ mời qua.
Sáng ngày vua Chuân Đà La,
Dâng lên ngài một tách trà khảm châu.
Uống rồi Phật hóa pháp mầu,
Đổ cấn xuống đất thành cầu hào quang.
Bắc trên hồ nở sen vàng,
Chung quanh soi bóng mấy hàng liễu dương.
Bờ hồ lát những kim cương,
Chiếu lên ánh sáng dị thường nơi nơi.
Đáy hồ xanh biếc da trời,
Toàn bằng vụn ngọc sáng ngời làm men.
Gió về đưa đẩy cành sen,
Xanh pha hồng tía lam chen đỏ vàng.
Muôn màu hoa tỏa muôn quang,
Thành mây ngũ sắc trên hàng sóng xô.
Một vùng ngọc chiếu hoa phô.
Khiến người soi, thoát mê đồ bỗng dưng.
Đạo tràng từ chúng vui mừng,
Nghìn năm vạn kiếp ai từng rõ hay.
Phật tùy căn độ sâu dày,
Phương tiện thuyết pháp khai bầy tâm vương.
Hôm sau ngài lại lên đường,
Vua Nhân Đà thỉnh cúng dường phạn trai.
Lạ thay mắt Phật ánh ngời,
Hóa thành dòng suối tuyệt vời xuôi nhanh.
Nước xô nhau kết nên thanh,
Tiếng êm như nhủ: ngũ căn diệu hòa.
Tiếng mau như giục người qua,
Thất giác, ngũ lực Phật Đà thần thông.
Tiếng dồn như gợi mênh mông,
Tam minh, từ đẳng lục thông pháp mầu.
Tiếng nao như thức ai sầu,
Lục sầu hòa là pháp nương cầu qua mau.
Tiếng ầm như réo gọi nhau
Tám đường giải thoát ưu sầu vượt băng.
Tiếng nao như nhủ dưới trăng
Đại Từ Bi mới là đàng chính chân.
Pháp mầu hiện độ chúng nhân,
Hai dòng suối chảy phù trần dạt trôi.
Khiến cho ai đã nghe rồi,
Gần nơi giải thoát, xa nơi lụy phiền.
Sáng ngày Phật lại hóa duyên,
Cỏ hoa mừng bước đại hiền Như Lai.
Vua Phạm Đạt thỉnh cúng trai,
Bên thành dựng một lễ đài nguy nga.
Hơi thở Phật nở liên hoa,
Hương theo gió đến cõi xa ngàn trùng.
Khiến người mơn mởn hình dung,
Bao nhiêu tham ý mê lòng lắng tan.
Cánh hoa lại nở hào quang,
Kết thành một chiếc tàng vàng quyện hương.
Hôm sau Phật lại du phuơng,
Theo đại thí chủ Luật Xương đón về.
Khắp thôn hoa kết tàn che,
Phật ngồi thuyết pháp trên hè trầm bay.
Ngài đưa lên một ngón tay,
Hóa ngàn bướm trắng phiêu bay dập dìu.
Tụ thành hoa nổi tàn treo,
Kết vành xe pháp xoay theo gió trời.
Hòa quang chiếu tỏa muôn nơi,
Khiến trong pháp hội người người hiểu nhau.
Dù là tâm ý vương đâu,
Khác gì biển thẳm non sâu hiện bày.
Phật tùy căn đức sâu dầy,
Pháp mầu diễn nói tỉnh người mê si.
Sáng sau Phật lại ra đi
Bốn phương trải tấm hoàng y diệu vời.
Có dòng họ Thích đón mời
Qua Tỳ La Vệ ngự nơi rừng đào.
Phật ngồi trên đỉnh đồi cao
Phóng ra muôn ánh bạch hào mông mênh.
Khiến ai ai cũng thấy mình
Ngự trên ngai ngọc quang minh giữa trờ.
Ngàn hoàng tử trấn các nơi
Non sông lầu các sáng ngời hồng quang.
Triều thần muôn vạn võ văn
Cung phi lá ngọc cành vàng thướt tha.
Khiến ai cũng thấy chính ta
Làm vua chuyển pháp ngự tòa kim cương.
Tỉnh ra xiết đỗi lạ thường
Tự tâm là cõi thiên đường cao sâu.
Mới hay bản tánh nhiệm mầu
Phát nguyền vô thượng quay đầu tầm tu.
Sáng ngày Phật lại vân du
Bỗng mây muôn sắc phủ từ hư không.
Hiện ra nước nhược non bồng
Kìa lầu bích ngọc nọ đồng bạch hoa.
Một bầy tiên nữ múa ca
Vóc hồng rủ liễu vai ngà buông tơ.
Tiếng ca quyện với sương mờ
Thành muôn hạt đọng trên bờ lách lau.
Non cao suối đổ dòng mau
Giữa ngàn hoa trắng có cầu mây cong.
Cành sương đầm tía pha hồng
Dăm con hạc nổi bềnh bồng đậu theo
Trong lầu đá cẩm cheo leo
Bâng khuâng đàn địch dập dìu phách sênh.
Kéo ra voi ngựa quần thần
Kiệu minh châu võng cẩm vân tuyệt vời.
Hỏi xem mới rõ cung trời
Lệnh vua Đế Thích thỉnh mời Phật tăng.
Về cung Quỳnh ngọc cúng dàng
Tuyên dương chính pháp nghiêm trang Bồ Đề.
Hai vua Đế Phạm hầu kề
Dưới trên cẩm ngọc bốn bề hoàng vân,
Phật ngồi thuyết pháp biến thần
Trên tòa sư tử trắng ngần lưu ly.
Pháp thân như núi Tu Di
Vai đeo nhật nguyệt đôi vì hào quang
Mỗi lời lại trổ sen vàng
Tiếng nghe âm động muôn ngàn cõi tiên.
Chúng sinh vô lượng quanh miền
Viên âm khiến nở nhân hiền nơi nơi.
Phật vừa yên lặng mỉm cười
Bỗng nhiên sấm động vang trời gần xa.
Dưới tòa năm vị nhẩy ra
Nào Đại Thần Quỉ như là sắt hun.
Nào thần Mật Tích Kim Cương
Tay cầm chầy ngọc lửa vương mái đầu.
Đuổi Lục Sư xuống dòng sâu
Mang mang sóng nước âu sầu khói sương.
Thần lại kéo lên vệ đường
Sáu người hồi tỉnh khác thường tính căn.
Lắng tan vọng tướng phù trần
Như cành cây nọ thêm lần đơm hoa.
Chắp tay cầu thỉnh thiết tha
Mang theo cả vạn cuồng đồ về nương.
Trở thành thanh tịnh sa môn
Tiến tu thiện nghiệp trăm đường tốt tươi.
Thiện duyên khiến cả trời người
Tỉnh cơn huyễn mộng, xa dời tà nghiêng.
Hôm sau vua trời phạm thiên
Cúng dường đức Phật bên triền non mai.
Tiệc đào hóa tự cõi trời
Toàn bằng bảy báu sáng ngời diệu quang.
Vi vu mây tía mây vàng
Khắp hư không kết thành tàn bảo châu.
Phật ngồi hiện hóa pháp mầu,
Hào quang biển thẩm non sâu chói lòa.
Lưng trời man mác ngàn hoa,
Kết thành nhạc báu la đà gió hương.
Khiến thiên chúng khắp đạo trường,
Thấm vi diệu nhạc tỏ tường nhân duyên.
Sáng sau vua trời Tứ Thiên,
Cúng dường thiết tiệc trên triền Nam san.
Giữa hư không dựng pháp đàn,
Sương xanh hòa với mây vàng ùn xây.
Phật đem diệu pháp khai bầy,
Ứng thân hiện khắp cõi này mênh mang.
Đâu không chan chứa từ quang,
Hoa lay là ý, suối vang là từ.
Khiến người thanh thản trầm tư,
Như hương bay giữa chân như đạo trường.
Tan mê ngộ đạo chân thường,
Diệu dụng vô ngại mười phương Phật hào.
Chim thần tung cánh bay cao,
Nguyện đem ánh sáng đạo vào trần ai.
Hôm sau Phật lại hóa trai,
Có nhà Phạm Nguyện mời Ngài lên non.
Trang hoa muôn dặm tía hồng,
Trên lưng núi phượng lượn vòng cánh xuân.
Có dòng suối lặn phù vân,
Qua đồi đá trắng vang rần chim ca.
Ngàn lau thấp thoáng đôi nhà,
Ngoài hiên cỏ thiết một tòa tịnh thanh.
Trên ghế trúc Phật biến hình,
Chỉ còn một ánh quang minh khắp trời.
Hóa thành cam lộ vàng rơi,
Khiến cho đại chúng tỉnh người mê sân.
Gió thơm thoảng sạch phù trần,
Người trong pháp hội thêm phần oai nghi.
Vượt qua huyễn mộng tham si,
Thoát vòng ảo hóa theo về tánh không.
Một qua ải mộng trần hồng.
Đạp phù vân nối muôn dòng chim bay.
Phát nguyền chuyển đạo Như Lai,
Cứu nhứt thiết khổ dựng đài tâm hoa.
Hôm sau ông Hồ Đại La,
Sửa sang thỉnh Phật về nhà cúng trai.
Trước mong quả phúc hậu lai,
Sau cầu pháp độ trần ai mê lầm.
Đỉnh ngọc đốt giải thoát trầm,
Giữa nền thủy tạ trên đầm mênh mông.
Phật nhập định phóng thần thông,
Mười phương vũ trụ hiện trong lòng từ.
Mây vàng tỏa khắp thái hư,
Dệt nên bài kệ chân như nhiệm mầu.
Khiến chúng sinh khắp năm châu,
Trông mây lòng sạch tham cầu ai bi.
Pháp hiền trong suốt lưu ly,
Đưa về tánh Phật tư nghì được sao.
Ý thần vỗ cánh chim cao,
Gọi nhau tỉnh giấc mê đào trần sa.
Sáng sau vua Chuân Đà La,
Trong vườn thượng uyển dựng tòa đàn hương.
Sửa tiệc thanh tịnh cúng dường,
Thỉnh Phật dừng nghỉ bước đường vân du.
Lại truyền ân xá giảm tù,
Phóng sinh, bố thí…đền bù đức cao.
Phật ngồi chiếu ánh bạch hào,
Khiến người tỉnh giấc chiêm bao, thấp hèn.
Khói trầm kết thành hoa sen,
Đài phô trương nhụy cánh chen sắc màu.
Hóa thân Phật tựa vàng châu,
Ngự đài hoa diễn pháp mầu thần oai.
Theo mây đi khắp trần ai,
Khắp trong thế giới muôn loài ngẩn ngơ.
Sạch lòng bọt nổi huyền mơ,
Cánh hồng tung gió qua bờ thiên tiên.
Gió vi diệu bạt ưu phiền,
Hoa vi diệu thoảng hương thiền từ bi.
Hôm sau võng lọng tinh kỳ,
Vua Ưu Điền thỉnh Phật về thiết trai.
Bên sông tùng liễu vươn dài,
Kết bè gỗ quí dựng đài tôn nghiêm.
Đèn treo hoa trải hai bên,
Xuôi dòng man mác buông thuyền nhã ca.
Đón Phật xuống ngự bè hoa,
Như viền băng nguyệt trên tòa bảo vân.
Vua cúng hoàng hậu phi tần,
Ngồi quanh thính pháp muôn phần kính tôn.
Phật dùng ảo diệu thần thông,
Biến hoa kia hóa xe rồng lên mây.
Toàn dùng bảy báu trưng bày,
Trên xe chở một kiệu đầy thi kinh.
Mỗi pho là mỗi đẩu tinh,
Hào quang chư Phật hiện hình bến mê.
Theo đường mây nổi bay về.
Đại phương thế giới mười bề sao sa.
Cúng dường muôn cõi Phật Đà,
Cầu thần oai chuyển ta bà nghiệp chung.
Lại đem diệu pháp thần thông.
Khiến người tỉnh giấc trần hồng mê say.
Như chim vượt lưới trùng vây,
Như đêm viên nguyệt, như ngày thái dương.
Trí Phật như đấng Dược Vương,
Tùy căn bệnh khổ vô thường chúng sinh.
Thuốc thần chữa gốc vô minh,
Tỉnh ra ngã, pháp một hình bọt sôi.
Vọng tâm biến diệt nào thôi,
Mười hai xiềng khổ luân hồi mãi xoay.
Nền trời lấm tấm hoa bay.
Trên sông man mác vơi đầy dòng ca.
Sáng ngày sau vua Bình Xa,
Cùng hàng văn võ kéo ra thỉnh mời.
Khi đoàn rước Phật đến nơi,
Hoàng cung như thể cõi trời gấm nhung.
Lại thêm tòa giảng đại hùng,
Nhân dân khắp chốn quanh vùng về nghe.
Bỗng dưng những áng mây che,
Kết thành bàn ghế trên hè tỏa quang.
Mâm son, bát ngọc, đũa vàng,
Tiệc trai chuyển tự thiên đàng xuống mau.
Sương năm sắc hiện giải cầu,
Từ thinh không bắc xuống lầu niệm hoa.
Lại nghe réo rắt đàn ca,
Với bao tàn lọng gần xa chập trùng.
Cõi phàm chợt hóa thiên cung,
Đèn treo, hoa kết quanh vùng hội xuân.
Chư tiên đãi tiệc hồng trần,
Thiện duyên khiến thấy một lần thiên thai.
Dự xong, đương lúc người vui,
Cảnh kia lại hóa mây trời bay đi.
Trên tòa hồng ngọc lưu ly,
Trầm thơm quyện tấm hoàng y ngạt ngào.
Phật chỉ tay, dưới đài cao,
Hiện ra cõi ngục lúc nào chẳng hay.
Tội nhân muôn kiếp đọa đày,
Hết nung cột lửa, lại bầy vạc sôi.
Hết cưa thân, lại nén người,
Hết nằm thú rỉa, lại ngồi bàn chông.
Trói vào một khối tiền đồng,
Nghìn năm cân nặng lưng còng bê đi.
Khổ vì keo kiệt cuồng si,
Nên giờ tiền bạc buộc ghì đôi tay.
Lại thêm già trẻ gái trai,
Trói vào neo sắt co người khiêng theo.
Phật rằng tội phước cheo leo,
Gieo nhân hái quả là điều buộc thân.
Hoặc là tàn ác sát nhân,
Hoặc là bán nước buôn dân tội dày.
Hoặc là hại kẻ thơ ngây,
Hoặc là dâm đãng xúi bầy nát tan.
Hoặc là trộm cướp điêu gian,
Hoặc là trộm cướp điêu gian,
Hoặc là lừa gạt muôn vàn đảo điên.
Khiến người nhục nhã oan khiên,
Khiến người thêm oán thêm phiền chấp nê.
Gây bao nhân khổ duyên mê,
Là bao tội trạng nặng nề chất lên.
Nghiệp thân khẩu ý vô biên,
Đắp thành ba ngục ưu phiền mông mênh.
Xem nghe ai chẳng rung mình,
Suốt muôn ngàn cách cực hình khảo tra.
Ngẫm ngay giữa cõi người ta,
Lưỡi gian có khác chi là hầm chông.
Thân kia chẳng khác ngục đồng,
Ý kia chẳng khác lửa hồng bốc reo.
Vui buồn nào khác khiêng neo,
Biết mình giữa chốn hiểm nghèo mấy ai.
Lạ thay! miệng đức Như Lai,
Mở lời, địa ngục hóa đài hào quang.
Rằng: “ Ba biển nghiệp mênh mang,
Mà chiêu cảm đến hai đàng khác nhau.
Ác tâm đọa lạc ngục sâu,
Thiện tâm lên cõi nhiệm mầu nhân tiên.
Trùng trùng thập nhị nhân duyên,
Do Ái- thủ- hữu- hiện tiền bày ra.
Sáu đường trôi nổi phù sa,
Vô minh khởi hiện bạo hà tham sân.
Các người mau thoát mê tân,
Như trăng sáng giữa ảo vân ngợp trời.
Dù cho sóng động trùng khơi,
Con thuyền lục độ đưa người tang thương.
Nghe xong khắp cả đạo trường,
Phát tâm bố thí tìm đường nhân thiên.
Lời hiền âm thoảng suối thiêng,
Chợt nghe ngạ quỉ cũng liền hóa sinh.
Vua Bình Xa đứng nghiêng mình,
Chắp tay lễ Phật chân tình tỏ thưa:
“ Bao người mong ước từ xưa,
Xem các tướng tốt mà chưa toại lòng.
Vì bánh xe pháp đôi vòng,
Dưới bàn chân nọ chưa từng được hay.
Dám xin ngài, tiện hôm nay,
Rộng thương đại chúng phô bày tướng kia”.
Theo lời thỉnh của nhà vua,
Phật đưa chân họ qua bờ đài hương.
Khiến ai ai cũng hay tường,
Sắc tươi ngọc tỏ, mầu hường giángj pha.
Hiện lên rỡ rỡ luân xa,
Rõ ràng vòng bánh nan hoa diệu vời.
Khiến cho hoan hỷ lòng người,
Vua Bình Xa mới tiếp lời trình thưa.
Nhân gì gieo thủa xa xưa,
Nên chi phúc báo thân giờ đẹp thay?
Phật rằng: “ tiền kiếp ta đây,
Giữ mười điều thiện khiến người tu theo.
Nên nay tốt đẹp trăm chiều,
Một đời phước huệ cao siêu ai bì”
Vua thưa: “ Diệu pháp tu trì,
Cách đem hóa độ tham si thế nào?
Khiến đời muôn vạn trần lao,
Sáng tươi dưới ánh Phật hào mênh mông.
Xin ngài độ kẻ qua sông,
Xin ngài cho kẻ có lòng được hay”.
Phật rằng: “ vạn kiếp cách đây,
Có nhà vua hóa cõi này trang nghiêm.
Oai danh đồn đãi muôn miền,
Chăn dân, trị nước, chúa hiền gắng công.
Buồn riêng, chưa kẻ nối dòng,
Dẫu nơi cung cấm đào hồng thiếu chi.
Một hôm săn thú rừng kia,
Hai bên voi ngựa, bốn bề cung thương.
Gặp đàn thỏ dưới cội sương,
Mẹ dắt con nhỏ tìm đường ẩn thân.
Trông như cụm tuyết trắng ngần,
Một bầy ngơ ngác muôn phần sợ thay.
Thỏ con tha thẩn dưới cây,
Biết đâu nguy khốn kề ngay bên mình.
Thỏ mẹ nấp đứng quẩn quanh,
Ngó con, đau xót chẳng đành bỏ đi.
Vua truyền bãi cuộc lui về,
Thỏ còn tình nặng huống chi loài người.
Mà ta lấy máu làm vui,
Càng suy nghĩ lại càng bùi ngùi thương.
Long xa về đến triều đường,
Lòng vua còn mối vấn vương bời bời.
Nửa đêm chợt hiện một người,
Xưng là thần núi mắt ngời lưu ly.
Dáng cao lẫm liệt phuơng phi,
Nói rằng: “ Tôi đã cảm vì lòng vua.
Rộng ban thánh đức móc mưa,
Khiến muôn vật cũng được nhờ sinh sôi.
Chí ngài cảm đến lòng trời,
Sẽ sinh ấu chúa xứng ngôi rỡ ràng”.
Báo rồi vụt tỏa hào quang,
Nhà vua mới biết mộng vàng vừa đây.
Cứ như điềm báo trước này,
Hẳn có trai quí một ngày không xa.
Sáng mai chiếu chỉ ban ra,
Cấm ngăn cờ bạc cùng là sát sinh.
Lại truyền bỏ hết cực hình,
Chẳng còn tổn hại sinh linh mọi bề.
Nguyện đem công đức hướng về,
Đổi thay cộng nghiệp tham mê hồng trần.
Chẳng bao lâu khắp thần dân,
Nghe hoàng hậu có tin xuân đầu mùa.
Phòng hương cầu nguyện thêu thùa,
Nụ hoa thoắt đã đến giờ mãn khai.
Tin truyền khắp cõi trong ngoài,
Thái tử là một cậu trai khác đời,
Thân như ngọc sáng mầm tươi,
Khôi ngô tuấn tú ra người trượng phu.
Chư hầu bao vị chúa vua,
Chúc mừng vương quốc dựng mùa hội hoa.
Niềm vui tràn khắp muôn nhà,
Đón chào minh chúa vừa ra trị đời.
Vua cho sứ đến một người,
Hiền nhân ẩn sĩ để mời vào cung.
Người khen: “ Tướng đẹp vô cùng,
Sẽ ghi tiếng đại anh hùng sử xanh”.
Vua rằng: “Đã có điềm lành,
Mang thai, Hoàng hậu thông minh khác thường.
Tự nhiên kinh sách tỏ tường,
Lại hay làm phúc ban ơn mọi bề.
Tâu thêm: “ vóc thể phương phi,
Chân lông tỏa ánh sáng kỳ diệu thay!
Và theo điềm lúc mang thai,
Xin đặt thái tử tên này Bửu Quang”.
Nói rồi từ tạ thánh hoàng,
Khoan thai trở gót về làng ẩn cư.
Lần lần sương sớm mây trưa,
Tàn xuân hoa nọ đã vừa trái xanh.
Trẻ hiền sớm phát tinh anh,
Trăm pho huyền nghĩa học hành thông mau.
Tiếng như nước suối qua cầu,
Môi như hồng nụ phô mầu chớm xuân.
Mắt chàng như giếng thu ngần,
Tay như bút ngọc muôn phần đẹp tươi.
Hòa nhau ái ngữ nết người,
Lại bi trí dũng tính trời vốn mang.
Xuân vừa tới tuổi bửu quang,
Thì đau đớn nỗi phụ hoàng qui tiên!
Triều thần theo luật đương nhiên,
Tấn phong thái tử ngự lên ngai vàng.
Tân vương sau lễ đăng quang,
Ban hành chiếu chỉ sửa sang mọi ngành.
Bỏ tà, giữ chánh phân minh,
Lại theo thập thiện điều hành quốc dân.
Dẫu là mệt trí nhọc thân,
Đức vua cùng vời quần thần quản chi.
Có hôm trong buổi triều nghi,
Ngài khuyên văn võ hướng về đạo chân.
Trị người cốt dẹp mê sâh,
Tuyên dương chánh pháp tự thân hành trì.
Diệt tan mầm cội tham si,
Nước dù muôn cõi khác chi một nhà.
Ngoài biên có vị chúa ma,
Nổi lòng đố kỵ nghĩ ra mẹo lừa.
Giả ban các chiếu chỉ vua,
Thu hồi luật thiện, bênh hùa ác tham.
Khiến dân sinh dạ oán than,
Ma xui thành cuộc tương tàn đó đây.
Đức vua nghe báo tin này,
Tiến binh muôn dặm, xem ngay sự tình.
Chẳng bao lâu, tỏ ngọn ngành,
Nơi nơi lại cảnh thái bình an dân.
Đường về qua bến phù vân,
Sóng gầm đáy nước mây vần núi cao.
Vẳng nghe sầu oán âm hao,
Tiếng rên thảm thiết khác nằo khảo tra.
Lệnh truyền quân mới tìm ra,
Một người lửa phỏng khóc la rợn mình.
Đớn đau quằn quại thân hình,
Truyền đem cứu chữa, cạn tình hỏi ngay.
Vua rằng: “ Vì cớ chi đây,
Ai thiêu ném dưới hàng cây bên đường.
Ma rằng: “ Quả báo tai ương,
Vì con tu thiện lại thường khuyến dân,
Khiến đời dẹp bỏ tham sân,
Tội người trút xuống một thân đền bồi.
Người thì phúc lạc cõi trời,
Còn tôi ngục lửa đời đời mang thân.
Đớn đau khổ cực muôn phần,
Bây giờ hối lại bao lần khóc than.
Vua rằng: “ Xin chớ bi quan,
Giúp người dứt sạch mê tham được rồi.
Tiếc gì thân xác bèo trôi,
Nổi nênh bể khổ luân hồ chơi vơi.
Một tay này cứu muôn người,
Ngục kia nào khác cõi trời Hóa Thiên.
Ta đây sớm phát lời nguyền,
Cứu muôn loài thoát ưu phiền khổ đau.
Giả thân này có thể nào,
Muôn đời ngục lửa xin vào một ta”.
Lời liền tỉnh thức lòng ma,
Biến thân đi giữa giang hà sóng êm.
Ma vương cũng phát tâm nguyền,
Tạo muôn nghịch cảnh trợ duyên giúp đời.
Đường lên cho được tuyệt vời,
Lấy ác ngăn ác cho người tiến tu.
Thế rồi dân cõi Diêm Phù,
Đẹp thân- khẩu- ý đền bồi thiện duyên.
Thi Di kiếp đó danh hiền,
Bây giờ là Tịnh Phạn Vương tại trào.
Hoàng hậu thuở trước lạ đâu,
Giờ là thân mẫu sớm mau về trời.
Bửu Quang chuyển pháp nơi nơi,
Khiến đời an lạc giúp người thiện tu.
Trải bao mộng cõi Diêm Phù,
Hóa khai chính đạo cho dù thiệt thân.
Tướng lành nổi ở bàn chân,
Hai vành xe chuyển pháp luân sáng ngời.
Là nhờ tích thiện muôn đời,
Thanh cao như ngọc, tuyệt vời như hoa.
Bấy giờ hoàng đế Bình Xa,
Thêm lòng thâm tín đứng ra tỏ bầy:
“ Nhân duyên giăng mắc cõi này,
Kiếp xưa ngoại đạo chẳng hay nghiệp gì?
Đắm chìm sân hận mê si,
Vu miệt chính pháp từ bi, lẽ nào?
Xin ngài soi ánh bạch hào,
Cho người đắm giấc mơ đào rõ hay”.
Phật rằng: “ Vô lượng kiếp đây,
Vua Lê Lợi trị cõi này trang nghiêm.
Vương phi bao vị như tiên,
Đều chưa thai nghén lo phiền nhu nhau.
Vua thường tạo phúc nghiệp sâu,
Mở kho bố thí, tìm cầu đạo chân.
Ngài luôn lấy đức trị dân,
Nước nhà cường thịnh muôn phần an vui.
Ngày kia có một vua trời,
Cũng vì cảm mến đức ngời nhân vương.
Hóa thân ra một người thường,
Lưng đèo bồ thuốc tìm đường vô kinh.
Quì trước điện ngọc tâu trình,
Xin chữa hoàng hậu hạ sinh con hiền.
Lão rằng: “ thuốc tự núi tiên,
Phải pha bằng máu một nghìn trẻ trai.
Nếu được chấp thuận thưa ngài,
Truyền quân lùng bắt sáng mai mang về”
Nghe qua nét mặt ủ ê,
Hại người để lợi một bề riêng sao!
Vua truyền: “ Trẫm chẳng thể nào,
Vì mình mà khiến máu đào nhuốm tay.
Thôi thì cảm tạ ơn thầy,
Chẳng tiếc công xuống chốn này giúp nhau
Ta đành tuyệt tự mai sau,
Hơn để kẻ khác thảm sầu mất con”.
Ý vua đã vững như non,
Sóng thần chẳng chuyển, ai còn uổng công.
Bấy giờ một đám mây hồng,
Bay vào tụ giữa thềm rồng lạ thay.
Kết thành một cỗ kiệu mây,
Sương đan rèm ngọc, khói xây mái đình.
Vị lang y hiện nguyên hình,
Là vua Đế Thích hoan nghinh bực hiền.
Thưa rằng: “ tôi trị cõi thiên,
Đức ngài cảm đến muôn miền trời xa.
Mến tình mới hóa thân ra,
Xuống đây thử lửa xem là vàng thau.
Quả nhiên chói lọi bảo châu,
Hẳn ngài sẽ được con sau nối dòng.
Trao bồ thuốc trước thềm rồng,
Trắng phau hoa tuyết, phớt hồng cỏ tiên.
Dặn rằng: “ lấy nước sắc liền,
Uống vào tất có người hiền nối ngôi.
Chia tay giọng những bồi hồi,
Động hoa vàng tất có hồi tìm nhau.
Thiên vương vào kiệu trân châu,
Hóa ra một nội hoa mầu bay lên.
Vua truyền sắc cỏ hoa trên,
Đưa các phi hậu uống liền xem sao.
Chính cung nghĩ chẳng tin nào,
Nên không chịu uống, sầu bào lòng thôi.
Khi nghe đều đã thụ thai,
Vội truyền tìm bã thuốc hoài bỏ đi.
Uống vào như các thứ phi,
Lạ thay cũng kịp một thì khai hoa.
Nhưng khi hoàng hậu sinh ra,
Nhìn con, lòng tủi lệ sa giọt ngời.
Trẻ đâu có dáng lạ đời,
Xấu như quỉ sứ nhà trời gớm ghê.
Trong khi con các vương phi,
Thu nghiêng mắt biếc, xuân kề môi tươi.
Tóc như mây hạ buông lơi,
Tiếng như suối ấm vừa dời nguồn sa.
Thái tử tên gọi Lê Ba,
Vua truyền giao trẻ riêng nhà dưỡng nuôi.
Tránh nhìn nửa quỉ nữa người,
Tránh cho thiên hạ bia cười dèm chê.
Dần dà năm đến năm đi,
Anh em thái tử đến kỳ lớn khôn.
Cầm quân trấn giữ biên cương,
Một triều thịnh trị bốn phương thái hòa.
Bỗng đâu có việc can qua,
Giao tranh cùng nước Tân La láng giềng.
Khói bay lửa ngút ải biên,
Bao nhiêu dũng tướng, con hiền chạy thua.
Giặc như nước lũ tràn bờ,
Đạp tan thành quách dựng cờ xâm lăng.
Tin như sát đánh vương thành,
Lê Ba thái tử một mình xin đi.
Tục truyền Thiên tự xưa kia,
Còn cây cung lớn lượng vừa muôn cân.
Từ thời vua Chuyển Thánh Luân,
Dùng bảo vật nọ trần quân bạo tàn.
Trải bao mây nổi hợp tan,
Cây cung quốc bảo còn truyền tới nay.
Sức người nào thể chuyển lay,
Vào chùa, thái tử một tay xách kề.
Dương lên sấm động bốn bề,
Gió to sóng lớn dâng về trợ oai.
Giặc nghe phách lạc hồn bay,
Trăm thành thu lại không đầy tấc gang.
Vua Tân La đến xin hàng,
Giữ tình giao hảo, lân bang vui vầy,
Thế là truyền khắp Đông Tây,
Tin thiên tướng xuống cõi nầy yên dân.
Vua cha bàn với triều thần,
Tính bề gia thất muôn bề khó khăn.
Người còn chẳng dám lại thăm,
Nói gì đến chuyện gối chăn xum vầy.
Đình thần có vị tâu bầy,
Nghe có công chúa thơ ngây liễu đào.
Hoa còn vườn kín lầu cao,
Dưới trên hiếu thuận, ra vào đoan trang.
Nàng vừa tới tuổi tròn trăng,
Con vua Thế Tổ láng giềng nước kia
Cử nghinh hôn lễ đón về,
Rồi ra tráo rể đôi bề vẹn đôi.
Một mai ván đóng thuyền rồi,
Quen hơi bén tiếng cũng thôi ngại gì.
Vả danh tiếng ấy ai bì,
Yêu tài là nết nữ nhi nặng tình.
Cứ mang lễ đến tâu trình,
Mượn em đón chị, sẽ thành đẹp đôi.
Thuận cho, nào quản xa xôi,
Chuyện mai mối để thần tôi liệu bài.
Vua truyền sửa lễ lựa ngày,
Hai xe gấm ngọc, cậy tay đại thần.
Bồi hồi ngó đợi tin xuân,
Chẳng bao lâu đã nghe quân báo về.
Thế là cở dựng tàn che,
Lầu cung hao kết ngựa xe nạm vàng.
Dẫu rằng phượng chữa biết loan,
Đã đinh ninh kết đá vàng duyên xa.
Kiệu hồng rước đến thềm hoa,
Cung phi ngọc nữ kéo ra lậy mừng.
Đêm vui đèn lửa tưng bừng,
Dập dìu nhạc cử vang lừng pháo vui.
Tiệc tan, trò chuyện đôi hồi,
Tân nương càng mến nết người tân lang.
Từ đây, chỉ những đêm trường,
Cạnh nhau, sáng lại vắng chàng, thấy đâu!
Nàng than: đêm chóng ngày lâu,
“ Mặc ai mặt héo tâm sầu mặc ai.
Chàng rằng: yên ngựa miệt mài,
“ Biên cương muôn dặm, một tay binh quyền.
Lòng thì canh cánh bên em,
Mà vì trăm họ, giữ yên nước trời.
Mộng xuân còn lắm tuyệt vời,
Rồi ra loan phượng trọn đời sánh đôi.
Thiếu chi trăng gió bồi hồi,
Khi thuyền soi nước khi đồi dạo mây.
Bấy giờ yên đó vẹn đây,
Nước non thịnh trị vui vầy muộn chi.”
Một đêm thiêm thiếp xuân thì,
Rèm tơ vắng tiếng đàn tì nhẹ lay.
Nhớ quê biền biệt bấy ngày,
Giờ nghe sương động, vơi đầy giọt hoa.
Tưởng ngày dưới gối mẹ cha,
Tưởng khi đuổi bướm la đà vườn riêng.
Tưởng trang sách dưới tay mềm,
Tưởng hồ ẩn nguyệt dong thuyền gió thu.
Bây giờ còn áng mây đưa,
Còn trăng lữ thứ nhẹ đưa tiếng nào.
Nàng ngồi dậy, hé rèm đào,
Nghiêng song thu, nguyệt chiếu vào phòng hương.
Tựa nhìn man mác vườn sương,
Quê xưa kìa mảnh sao thường dõi theo.
Lòng đương trăm mối nghìn chiều,
Nhìn chàng nằm đó thiu thiu giấc hòe.
Nhạt mờ sau lá màn the,
Ánh trăng hờ hững soi kề gối bên.
Quay vào nhẹ vén màn lên,
Dung nhan sớm nọ đã in những ngày.
Dưới trăng giờ tỏ mặt này,
Bỗng tan hồn quế rời tay liễu đào.
Người đâu vóc dáng lạ sao?
Gục bên song cửa nao nao điếng người.
Trước kia anh tuấn tuyệt vời,
Mà nay như quỉ nhà trời xuống đây!
Trước sao mày phượng tóc mây,
Giờ sao dị tướng thế này hỡi ơi!
Hẳn ai mưu kế thay người,
Hay chàng biến hóa, như lời đồn xưa.
Có tài hô gió gọi mưa,
Đánh xong trăm trận như vừa trở tay.
Gục đầu nàng thiếp hồn say,
Gà đua tiếng gáy chân trời mờ sương.
Sáng nghe sẽ hót đầu tường,
Tỉnh ra lệch đệm xô giường vắng ai.
Buồng gương tóc cuộn trâm cài,
Xin đi dâng lễ miếu ngoài đồi thông.
Thác rằng: chàng đã bằng lòng,
Nên chi tung cánh sổ lồng như chơi.
Xe bon vượt đỉnh xanh ngời,
Bâng khuâng mấy nụ hoa dời cánh hương.
Nhớ nhà ngựa thẳng dây cương,
Được tin thái tử dõi đường băng theo.
Chàng dừng ải cuối cheo leo,
Ngùi trông đôi áng mây chiều buông tơ.
Bông lau ven suối vật vờ,
Bên kia biên giới sương mờ hắt hiu.
Người sầu ngựa cũng buồn thiu,
Vó rơi chốn cũ hồn neo cuối trời.
Bao đêm nến cạn dầu vơi.
Tháng sau mới giả làm người bán cung.
Vì hoa ngựa vượt muôn trùng,
Sang sông nhớ khói, qua rừng nhớ sương.
Một chiều chàng đến thành vương,
Ghé vào quán trọ bên đường tà huy,
Chợt hay: vua nước biên thùy,
Kéo quân sang với sinh nghi đón nàng.
Chàng nghe: sáu nước lâng bang,
Cành hương đã nức giá vàng bấy nay.
Từ nghe ngọc quí ngoài tay,
Hết đêm tơ tưởng lại ngày thầm trông.
Giờ nghe nàng lánh nhà chồng,
Thế là sửa lễ, thiếp hồng bắn qua.
Tranh nhau chuốc ngọc cầu hoa,
Thị uy lại kéo quân r cõi ngoài.
Triều đình trăm nỗi bời bời,
Đây toan rẽ ngọc, đó lời thiệt hơn:
Làm sao giữ vững biên cương,
Một đường cho vẹn một đường mới hay.
Lão thần có vị tâu bày:
“ Kế này hẳn giữ cõi này được yên.
Chi bằng yết bảng cầu hiền,
Cậy ai giữ vững thành liền, quốc gia,
Bấy giờ đáng mặt tài ba,
Bấy giờ sánh ngọc cầu hoa mới bằng.
Nước nao yều hẳn lui binh,
Nước nào mạnh hẳn kết tinh dài lâu.
Thế là châu vẫn hoàn châu,
Lại không kết oán gieo sầu với ai”.
Sáng sau bảng yết khắp nơi,
Đức vua tìm bực anh tài cứu nguy.
Nổi xung giặc đoạt thành trì,
Kinh đô ngơ ngác, biên thùy khói bay.
Địch nhắn tin: “ Nhận duyên này,
Rút quân, và trả thành ngay, ham gì”.
Trước lời cường địch thị uy,
Có người giựt bảng nguyện đi chiến trường.
Một mình thẳng tới biên cương,
Sóng dâng lớp lớp, mây vương mịt mù.
Giặc trông chưa đánh đã thua,
Người e quỉ sứ, kẻ ngờ thần tiên.
Ra tay đoạt mấy thành liền.
Khiến vua sáu nước lòng phiền khiếp oai.
Cờ hàng ngơ ngác đua bay,
Quốc vương tự đến thành ngoài tiếp tân.
Người đâu mặt quỉ tài thần,
Nửa phần khiếp vía nửa phần kiêng uy.
Hỏi ra nào có lạ chi.
Lê Ba thái tử từng khi nhắc truyền.
Tên người vang khắp sơn xuyên,
Một tay bạt nước láng giềng Tân La.
Lại là phò mã nước ta,
Trụ trời chống vững sơn hà từ nay.
Thế là ngọc lại hoàn tay,
Vợ chồng như thể mới ngày mật trăng.
Hoàng thành mở hội hoa đăng,
Nhạc ca vi vút, đèn chăng nhạt nhòa.
Sáng ngày vua bẩy nước qua,
Tôn phong hoàng đế Lê Ba rạng ngời.
Rằng: đây thiên tướng nhà trời,
Sức thần bạt quỉ, thương đời rộng tâm,
Cõi này dù vạn ngàn năm,
Nào ai sánh được sức thần như ai.
Quả trang hiền đức anh tài,
Chúng tôi kính ngưỡng danh Ngài bầy nay.
Bây giờ góp sức chung tay,
Xin Ngài thống nhứt cõi này, cho yên.
Trước sau nguyện dười điện tiền,
Lấy điều hòa thuận kết liên mọi nhà.
Bỏ vũ khí dẹp can qua,
Hiếu sinh làm cội, hiếu hòa làm duyên.
Để cho thuận dưới hòa trên,
Để cho khắp chốn nể kiêng cõi bờ.
Trình rồi bẩy nước tung hô,
Liên bang bền vững cơ đồ từ đây.
Cờ tung lá gọi ngàn mây,
Trống khua đất chuyển tàn vây thành ngời.
Cùng nhau vạch đất nguyện trời,
Rượu thề cắt máu chung lời sắt son:
Nguyện dù biển cạn đá mòn,
Chung nhau giữ vững nước non phú cường
Tháng sau đưa vợ hồi hương,
Tiễn đưa hoàng đế, bẩy vương theo kề.
Một đoàn trống thúc tàn che,
Hàng hàng voi ngựa, x exe ngọc vàng.
Cờ theo nhã nhạc tấu vang,
Voi anh dẫn trước, kiệu nàng áp sau.
Dập dìu sáng ngọc tươi châu,
Sông sưa giờ cũng tươi mầu dương hoa.
Tin vui báo đền vua cha,
Khắp đường hoa kết mọi nhà đèn thêu,
Lại vua trong buổi thiết triều,
Truyền ngôi thái tử đôi điều vẹn đôi.
“ Rằng ta tuổi hạc đã rồi,
Về non tu học trau dồi tuệ thân.
Quốc gia nhờ bực trung thần,
Phù trì thái tử muôn phần mở mang.
Rộng tình hòa hảo lân bang,
Dân giàu nước mạnh đạo vàng triển khai.
Cùng nhau liên đức liên tài,
Bên trong thuận hợp giặc ngoài lo chi.
Thái tử về đến kinh kỳ,
Vẻ vang rõ đức oai nghi rõ hiền.
Khi đi một ngựa một yên,
Khi về bảy nước theo liền rạng oai.
Một tay khuất phục trong ngoài,
Tôn phong hoàng đế lên đài vinh quang.
Vua cha thân mở thành vàng,
Đón con, mắt nhỏ đôi hàng lệ châu.
Nước mừng thủa vững kim âu,
Thả tù, miễn thuế, tìm cầu đạo tiên.
Dập dìu ngọc nữ phi tần,
Khúc nghê thường ảo xiêm vần vũ bay.
Lúc thì khói nổi hoa lay,
Dáng nghiêng là tuyết tóc bay là huyền.
Tiếng ca như yến như uyên,
Mừng đêm rồng phượng đoàn viên một nhà.
Lầu vàng sánh ngọc kề hoa,
Dìu nhau trong cánh tay ngà ngất ngây.
Rượu hồng ai chuốc chén mây,
Lênh đênh dòng ngọc, vơi đầy âm thanh.
Sớm nghe ríu rít trên cành,
Mây hồng thấp thoáng sau mành liễu tơ.
Nhìn nàng thiếp ngủ như thơ,
Mà ta thế đó, hững hờ bước chân.
Ra vườn soi đáy hồ xuân,
Nghĩ thân mà tủi cái thân dị thường.
Còn đang tha thẩn bên đường,
Bỗng đâu một áng mây vương trước lầu.
Kết thành cỗ kiệu trân châu,
Ngọc vàng lấp lánh muôn mầu đua tươi.
Hiện ra rờ rỡ một người,
Kiệu mây bước xuống mỉm cười trang nghiêm.
Tôi là Đế Thích vua tiên,
Cùng người vương vấn chút duyên bấy ngày.
Cũng vì nhau hiện về đây,
Có viên bảo ngọc trao tay niệm tình.
Khi nào đem giắt bên mình,
Thì người đổi tướng biến hình như chơi.
Oai nghi tuấn tú khác đời,
Cõi trần chẳng thể có người nào hơn.
E gì liễu ngại hoa hờn,
Lòng kia dẹp hết nguồn cơn từ rầy.
Vừa cầm thần ngọc trên tay,
Đáy hồ chợt hiện một người khác sao.
Nhìn lên kiệu ngọc tàn đào,
Hóa ra mây tía biến vào thinh không.
Vội vàng chàng ghé lầu Đông,
Đưa tay mang thử cây cung nhiếp thần.
Hoàng nương vừa tỉnh giấc xuân,
Bỗng dưng thấy một văn nhân tuyệt vời.
Xăm xăm mở cửa tới nơi,
Vội vàng sửa áo trâm cài đoan trang,
Miệng hoa lanh lảnh tiếng vàng.
Rằng: “ người kia ở đâu sang tự mình?
Cung thần là của chồng ta,
Biết điều trả lại, mau mà lánh ngay”
Người kia bỏ ngọc trên tay,
Lại là thái tử xưa nay hiện dần.
Nàng còn ngờ vực phân vân,
Lòng chàng giờ mới muôn phần đẹp vui.
Sự tình bày tỏ đôi lời,
Anh vừa được thưởng ngọc trời quanh minh.
Nên chi biến tướng đổi hình,
Từ nay ngọc giắt bên mình khôn xa”.
Vợ chồng sánh ngọc tươi hoa,
Vẹn duyên loan phượng mặn mà hơn xưa.
Đổi tên là Lê Đại Thừa,
Lên ngôi hoàng đế cõi bờ đảm đương.
Lại truyền tu chỉnh triều đường,
Bấy giờ có bốn long vương hiện về.
Cúi xin lo liệu mọi bề,
Hóa ra bốn suối pha lê diệu vời.
Nước tràn muôn dặm ùn hơi,
Dựng lên thành quách sáng ngời bảo châu.
Nào là muôn dãy kim lâu,
Nào đường mã não, nào cầu san hô.
Nào rừng chim tu líu lô,
Nào sông hoa trải, nào hồ sóng lơi.
Trang nghiêm chẳng khác cõi trời,
Nước non cường thịnh, nơi nơi thái hòa.
Phật rằng: duyên nghiệp đâu xa,
Lê Ba kiếp nọ là ta kiếp này.
Sáu vua nước cũ ngồi đây,
Lục Sư ngoại đạo ngày rầy qui nương.
Quẩn quanh ảo giác mê trường,
Cõi đời tan tụ vô thường vào ra.
Từ đây rũ áo trần sa,
Chim tiên vượt thoát ta bà nghiệp duyên.
Vua Bình Xa đứng bên thềm,
Rằng: “ Lê Ba trước tu hiền cách sao?
Đức hiền, sức đọ trời cao,
Mà nghe dị tướng ai nào dám trông.
Chẳng hay duyên nghiệp đèo bồng,
Là chi trong cõi hồng trần trả vay?”
Phật rằng: chính ở cõi này,
Kể vô lượng kiếp cách đây đã nhiều.
Núi kia có vị Tỳ Khiêu,
Phá tâm huyễn vọng sớm chiều công phu.
Nên bệnh phong, mặt sưng mù.
Lê chân hóa độ cho dù đớn đau.
Có bà nọ cúng dường dầu,
Về non chữa bệnh trước sau nhiều lần.
Chồng bà là gã vô ân,
Mỗi lần thấy đến tham sân dấy lòng.
Mắng rằng: ông lão bịnh phong,
Trông như quỉ sứ chớ hòng tu chi.
Cầm chút cặn bước mau đi,
Thân đầy ghẻ lở người gì mà ghê.
Trước lời miệng thế khen chê,
Rộng tâm hỷ xả chẳng nề nọ kia.
Chợt đâu vợ gã quay về,
Lấy dầu tốt cúng một bề kính tôn.
Lại vào nhà nhẹ khuyên chồng;
Anh xây mãi ngục lửa hồng mà chi!
Biết điều mau tỉnh sân si,
Thành tâm sám hối tội khi mạn Ngài.
Nghe vợ gã hối xin ngay,
Tham, sân, ác khẩu từ nay chừa dần.
Xin thầy có chuyện chi cần,
Ghé qua, chẳng dám ngại ngần hiến dâng.
Ngày ngày lão vẫn lâng lâng,
Qua nhà hóa độ như vầng trăng soi.
Một hôm chứng ngộ đạo rồi,
Sắp lìa giả tướng vào nơi Niết Bàn.
Nghĩ ơn tín chủ cúng dàng,
Hiện về hóa phép chuyển hàng trướng ma.
Thần thông biến hiện một tòa.
Kim thân ngự đỉnh liên hoa sáng ngời.
Hào quang chiếu khắp nơi nơi,
Hóa mưa cam lộ tuyệt vời nhân gian.
Bốn phương rợp tấm y vàng,
Hiện thành tám ngả huy hoàng trên không.
Người xem lắng ý sạch lòng,
Khởi tâm dũng mãnh thoát vòng trần mê.
Vợ chồng gã bán dầu kia,
Phát nguyền thanh tịnh xin về muôn sau.
Nguyện xây nước mạnh dân giàu,
Nguyện khai hóa đạo nhiệm mầu khắp nơi.
Truyền lưu trí tuệ đời đời,
Kết tình chồng vợ chẳng dời nghiệp duyên.
Nhờ trồng cội đức thiêng liêng,
Nên chi quả phúc nhiệm huyền lưu phương.
Trị vì làm Chuyển Luân Vương,
Nhân duyên báo ứng khôn lường vào ra.”
Nghe xong hoàng đế Bình Xa,
Truyền đem bia khắc để mà tu thânjj.
Triều thần cho đến toàn dân,
Lấy mười thiện nghiệp tinh cần tiến tu.
Trời chiều lãng đãng sương mù,
Sông xa khúc hát đò đua vọng về.
Người lên võng, kẻ lên xa,
Mắt còn hướng lại phía hè trầm hương.

(Còn nữa)

0 Comments:

Post a Comment

<< Home